Nhà viết kịch Lộng Chương (Tiểu sử, sự nghiệp và phong cách sáng tác)

Lộng Chương là một nhà viết kịch tài năng, nổi tiếng với những tác phẩm châm biếm sắc sảo, hóm hỉnh mà thấm đẫm tinh thần nhân văn, góp phần quan trọng vào sự phát triển của sân khấu kịch Việt Nam hiện đại. Bài viết dưới đây Khái quát về Tiểu sử, sự nghiệp và phong cách sáng tác của Nhà viết kịch Lộng Chương

Tiểu sử

– Nhà văn – nhà viết kịch Lộng Chương, tên thật là Phạm Văn Hiền, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1918 tại thôn Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

– Sau khi tốt nghiệp ngành hóa chất năm 1939, ông làm việc tại phòng kiểm soát xuất cảng, Sở Tổng Thanh tra Nông súc Hà Nội. Bên cạnh công việc chuyên môn, Lộng Chương sớm bộc lộ niềm đam mê nghệ thuật, tham gia nhiều nhóm kịch tài tử như Ban kịch Hà Nội, Nhóm kịch Thế Lữ, rồi Ban kịch Bình Dân thuộc Nha Bình Dân Học Vụ.

– Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông vừa cầm bút, vừa hoạt động sân khấu kháng chiến: tham gia Ban biên tập báo Công Dân, tổ chức Nhóm kịch Công Dân, làm Đội trưởng Đội công tác Văn nghệ tại Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn (phân hiệu II Trung bộ), và sáng lập Đoàn Văn công Liên khu III, sau này trở thành Đoàn Văn công Điện Biên.

– Sau hòa bình lập lại, ông trở về Hà Nội, tham gia thành lập Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam (1957) và giữ chức Ủy viên Thường vụ, Thường trực Hội cho đến khi nghỉ hưu năm 1978.

Nhà viết kịch Lộng Chương

 Sự nghiệp sáng tác

– Lộng Chương là một trong những cây bút tiên phong của nền kịch nói Việt Nam hiện đại. Trong mười năm kháng chiến chống Pháp, ông đã viết 17 vở kịch ngắn, tiêu biểu như Lý Thới (1948), Du kích thôn Đồi (1952), Đoàn quân tóc trắng (1953), Chiến đấu trong lòng địch (1954)…

– Sau năm 1954, ông tiếp tục sáng tác nhiều vở kịch phản ánh hiện thực xã hội thời kỳ đấu tranh chống cưỡng ép di cư như Nhỡ chuyến tàu bay, Ma hiện, Giữa đường, Mưu giặc

– Trong suốt sự nghiệp, Lộng Chương đã viết và chỉnh lý gần 100 vở kịch thuộc nhiều thể loại: kịch nói, kịch hát, kịch rối… Nhiều tác phẩm được in thành sách, dàn dựng trên sân khấu và phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam.

– Đặc biệt, vở hài kịch “Quẫn” (1960) là dấu mốc rực rỡ nhất trong sự nghiệp của ông. Tác phẩm được Nhà hát Kịch nói Trung ương dàn dựng, biểu diễn hơn 2000 buổi, trở thành biểu tượng của kịch hài Việt Nam. Ngoài Quẫn, ông còn viết Cửa mở hé và nhiều vở hài kịch khác mang đậm phong vị châm biếm, hóm hỉnh nhưng thấm thía.

– Bên cạnh sáng tác, ông còn tham gia viết tiểu luận, lý luận phê bình sân khấu, chỉnh lý và chuyển thể kịch bản dân gian, góp phần quan trọng trong bảo tồn và phát triển nghệ thuật sân khấu Việt Nam.

Phong cách sáng tác

Phong cách nghệ thuật của Lộng Chương được định hình rõ nét qua ba đặc điểm nổi bật:

– Ông sử dụng lời thoại linh hoạt, gần gũi, đầy duyên cười và thấm đẫm tinh thần dân gian, khiến các vở diễn vừa hóm hỉnh vừa sâu cay.

Nhân vật trong kịch của Lộng Chương thường đại diện cho những kiểu người trong xã hội vừa thực, vừa mang tính biểu tượng. Ông khéo léo tạo ra các tình huống kịch bất ngờ, giàu kịch tính nhưng không mất đi tính đời thường.

– Dưới tiếng cười sảng khoái là nỗi trăn trở về con người, về đạo đức và phẩm giá giữa đời sống nhiều biến động. Tiếng cười của ông không đơn thuần để mua vui mà để thức tỉnh, để con người nhìn lại chính mình.

– Lộng Chương là một trong những nhà viết kịch châm biếm tài hoa và sâu sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Bằng giọng văn sắc sảo, trí tuệ và đậm tính nhân văn, ông đã tạo nên dấu ấn riêng trong nền sân khấu nước nhà. Những tác phẩm của Lộng Chương không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn là tấm gương phản chiếu xã hội, giúp người đọc, người xem suy ngẫm và hướng tới những giá trị tốt đẹp, nhân ái hơn trong cuộc sống.

Tác phẩm tiêu biểu

Tiểu thuyết phóng sự

  • Hầu thánh (1942)

Kịch

  • Lý Thới (1948)
  • Xuân tóc đỏ (1948)
  • Ngai vàng long ốc (1948)
  • Chùm kèn (1949)
  • Hầm thị trấn (1949)
  • Mối lo của cụ Cửu (1950)
  • Đòi con (1950)
  • Giấu ruộng (1951)
  • Du kích thôn Đồi (1952)
  • Chỉnh lý (1952)
  • Hạt thóc đánh Tây (1952)
  • Thánh đường hỏa ngục (1953)
  • Đoàn quân tóc trắng (1953)
  • Chiến đấu trong lòng địch (1954)
  • Lá thư chưa gửi (1954)
  • Nhỡ chuyến tàu bay (1954)
  • Mưu giặc (1954)
  • Ra tỉnh hay ra ruộng (1954)
  • Giữa đường (1954)
  • Ma hiện (1954)
  • Thép đã vào lò (1955)
  • Cái máy khâu mượn (1956)
  • Viết đêm (1956)
  • Cánh én (1956)
  • Ngôi nhà mới (1957)
  • Hai thôn (1958)
  • Hỏi vợ (1958)
  • Yểm bùa trừ sâu (1959)
  • Đêm hội mùa (1959)
  • Chặn tay chúng lại (1959)
  • Quẫn (1960)
  • A Nàng (1961)
  • Người chủ mới (1961)
  • Đôi ngọc lưu ly (1961)
  • Hai chị em (1961)
  • Đôi ngọc lưu ly (1962)
  • Phá khu trù mật (1962)
  • Từ căn gác mới (1962)
  • Cánh én (1962)
  • Tối ba mươi tết (1962)
  • Ngô gia náo kịch (1963)
  • Đôi mắt cô Tơ (1963)
  • Vùng lên hỡi ai nô lệ (1963)
  • Úng (1964)
  • Người nữ tự vệ áo trắng (1965)
  • Hai tuyến lửa (1966)
  • Đất nước (1966)
  • Mẻ thép của ta (1966)
  • Bầu bán (1967)
  • Những nẻo đường hoa (1967
  • Chim rừng tung cánh (1967)
  • Mai sau (1967)
  • Dũng sĩ Rạch Gầm (1967)
  • Đường hoa (1967)
  • Tình thắm đồi hoa (1968)
  • Đêm trắng (1968)
  • Cửa mở hé (1969)
  • Đêm hầm ngầm (1970)
  • Đường đạn thẳng (1971)
  • Ma túy (1971)
  • Hoa đất Thăng Long (1973)
  • Đinh Bộ Lĩnh (1973)
  • Truyện từ một triều đại suy vong (1974)
  • Cánh chim luân lạc (Cánh chim bằng – 1975)
  • Bè trầm bản hành khúc (1975)
  • Những trụ cầu vững chắc (1975)
  • Thủy cung cố sự (1976)
  • Trở nồm (1976)
  • Dì Mai (1977)
  • Đổi đầu heo (1977)
  • Tình sử Loa thành (1979)
  • Hội thề (1979)
  • Cuộc tình huyền thoại từ Tây Côn Lĩnh (1979)
  • Án tử hình (1981)
  • Thanh âm huyền diệu (1982)
  • Quẫy (1984)
  • Tượng hình vĩnh cửu (1985)
  • Ngã (1988)
  • Bên dòng sông Vị (1988)
  • Để đến… nơi đến (1996)
Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *