Nhà văn Vũ Thị Thường là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, nổi bật với phong cách viết tinh tế, giản dị và giàu giá trị nhân văn, để lại dấu ấn sâu sắc qua truyện ngắn, kịch, truyện thiếu nhi và công tác sưu tầm, biên soạn. Bài viết dưới đây Khái quát về Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác của Nhà văn Vũ Thị Thường
Tiểu sử
– Nhà văn Vũ Thị Thường, tên khai sinh Lê Kim Nga, sinh năm 1930 tại xã Tả Thanh Oai, huyện Thường Tín, nay thuộc Thành phố Hà Nội.
– Bà là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1967.

Sự nghiệp và quá trình sáng tác
– Trong kháng chiến chống Pháp, Vũ Thị Thường từng công tác trong các tổ chức công đoàn và phụ nữ tại huyện Thái Bình. Bắt đầu viết văn từ năm 1956, bà nhanh chóng tham gia các hoạt động văn học và báo chí, làm việc tại Kiến An từ 1958 đến 1961.
– Năm 1959, bà được cử tham dự trại viết của Hội Nhà văn Việt Nam, và từ 1962 đến 1963 theo học khóa bồi dưỡng những người viết văn trẻ do Hội tổ chức.
– Từ năm 1961, bà công tác tại Nhà xuất bản Văn học, Báo Văn học, Báo Văn nghệ, Tạp chí Tác phẩm mới, đồng thời là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa III).
– Sau khi đất nước thống nhất, bà tiếp tục hoạt động văn học và công tác tại thành phố Hồ Chí Minh, để lại dấu ấn trong nền văn học hiện đại Việt Nam.
Tác phẩm
– Cái hom giỏ (truyện ngắn, 1959);
– Gánh vác (truyện ngắn, 1963);
– Hai chị em (truyện ngắn, 1965);
– Bông hoa súng (tập truyện ngắn, 1967);
– Vợ chồng ông lão chăn vịt (truyện ngắn, 1973);
– Câu chuyện bắt đầu từ những đứa trẻ (truyện ngắn, 1977);
– Ở sân nuôi gà vịt (kịch đồng thoại, 1978);
– Vịt chị, vịt em (truyện cho thiếu nhi, 1983);
– An Tư (kịch lịch sử, 1985);
– Vết rạn (truyện dài, 1987);
– Con yêu, con ghét (tập truyện ngắn, 1998)…
Những năm gần đây, bà chuyên chú sưu tầm, tuyển chọn Di cảo thơ của chồng (nhà thơ Chế Lan Viên), đã cho xuất bản 3 tập: Di cảo I (1992), Di cảo II (1993), Di cảo III (1996).
Phong cách sáng tác
Nhà văn Vũ Thị Thường nổi bật với phong cách viết tinh tế, giản dị nhưng sâu sắc, đặc trưng cho một lối viết truyền thống mà vẫn giàu sức sống. Văn của bà không chú trọng vào những tình huống éo le, giật gân hay thủ pháp gây sốc, mà hướng đến vẻ đẹp bình dị, nhân văn trong đời sống thường nhật. Các nhân vật trong truyện của bà đều mang vẻ đẹp nội tâm thanh thoát, đối diện với thử thách bằng lòng bao dung và sự khôn ngoan tinh tế. Kết thúc các tác phẩm thường có hậu, đem lại cảm giác trọn vẹn, ấm áp cho người đọc.
Ngôn ngữ trong các truyện ngắn, kịch, truyện thiếu nhi hay truyện dài đều tinh luyện, chắt lọc, vừa giàu nhạc điệu vừa dễ tiếp cận, thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tâm lý con người và nhịp sống. Bà cũng rất khéo léo trong việc khắc họa mối quan hệ giữa con người với nhau, giữa con người và thiên nhiên, thể hiện tư tưởng nhân văn và lối sống chuẩn mực.
Ngoài truyện ngắn, bà còn ghi dấu ấn qua các thể loại khác như kịch lịch sử, truyện thiếu nhi, kịch đồng thoại, và đặc biệt là công việc sưu tầm, tuyển chọn di cảo thơ của Chế Lan Viên. Công việc này phản ánh sự tỉ mỉ, cẩn trọng và trách nhiệm nghề nghiệp, thể hiện tinh thần sáng tạo và tấm lòng trân trọng văn học.
Giải thưởng
– Giải Nhất cuộc thi truyện ngắn 1958 – 1959 của tạp chí Văn nghệ.
– Giải thưởng Nhà nước về Văn học & Nghệ thuật đợt 2 năm 2007.
