Bài viết dưới đây khái quát về Tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm chính và phong cách sáng tác của Nhà văn Vũ Bằng
Tiểu sử
– Vũ Bằng (3/6/1913 – 7/4/1984), tên đầy đủ là Vũ Đăng Bằng, là một nhà văn và nhà báo nổi tiếng của Việt Nam. Ông quê gốc ở làng Lương Ngọc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nhưng sinh sống và làm việc chủ yếu tại Hà Nội.
– Sinh ra trong một gia đình nho giáo có sáu anh chị em, Vũ Bằng sớm mồ côi cha, sống cùng mẹ – một người phụ nữ buôn bán sách ở phố Hàng Gai. Nhờ đó, ông được tiếp xúc với sách vở từ nhỏ và có điều kiện học hành đầy đủ.
– Năm 1935, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Quỳ, người Bắc Ninh. Dù mẹ mong muốn ông du học Pháp để trở thành bác sĩ, Vũ Bằng lại quyết tâm theo đuổi con đường văn chương. Sau khi in được một số truyện ngắn và tiểu thuyết, ông từng rơi vào cuộc sống ăn chơi trác táng, nghiện thuốc phiện nặng trong khoảng năm 1934–1935. Nhờ sự tận tình chăm sóc của người cô ruột và vợ, cùng với nỗ lực vượt bậc của bản thân, ông đã vượt qua cơn nghiện và làm lại cuộc đời.
– Cuối năm 1946, Vũ Bằng cùng gia đình tản cư ra vùng kháng chiến, tiếp tục con đường hoạt động văn hóa và báo chí phục vụ cách mạng.

Sự nghiệp
– Vũ Bằng bắt đầu sự nghiệp văn chương rất sớm. Năm 16 tuổi, ông đã có truyện đăng báo và nhanh chóng dấn thân vào con đường viết văn, làm báo với tất cả niềm say mê, không vì mục đích mưu sinh. Đến năm 17 tuổi (1931), ông cho ra mắt tác phẩm đầu tay Lọ Văn, đánh dấu bước khởi đầu chính thức trong văn nghiệp của mình.
– Trong thập niên 1930–1940, khi còn rất trẻ, Vũ Bằng đã giữ nhiều vị trí quan trọng trong làng báo chí Hà Nội. Ông từng là chủ bút tờ Tiểu thuyết Thứ Bảy, thư ký tòa soạn tờ Trung Bắc Chủ Nhật, đồng thời cộng tác với nhiều tờ báo lớn tại Hà Nội và Sài Gòn.
– Sau năm 1954, ông chuyển vào Sài Gòn, tiếp tục hoạt động sôi nổi trong lĩnh vực văn học và báo chí. Tại đây, ông làm việc cho Việt Tấn Xã và cộng tác với nhiều tờ báo có tiếng, khẳng định vị thế là một cây bút sắc sảo, giàu tâm huyết và bản lĩnh.
– Ngày 13 tháng 2 năm 2007, Vũ Bằng được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Các tác phẩm tiêu biẻu
- Lọ văn (tập văn trào phúng, 1931)
- Một mình trong đêm tối (tiểu thuyết, 1937)
Sách giáo khoa tiếng Việt
- Truyện hai người (tiểu thuyết, 1940)
- Tội ác và hối hận (tiểu thuyết, 1940)
- Chớp bể mưa nguồn (tiểu thuyết, 1941)
- Quých va Quác (truyện thiếu nhi, 1941)
- Để cho chàng khỏi khổ (tiểu thuyết, 1941)
- Bèo nước (tiểu thuyết, 1944)
- Ba truyện mổ bụng (tập truyện, 1941)
- Cai (hồi ký, 1944)
- Mộc hoa vương (tiểu thuyết, 1953)
- Ăn tết thủy tiên (1956)
- Miếng ngon Hà Nội (bút ký, 1960)
- Miếng lạ miền Nam (bút ký, 1969)
- Bốn mươi năm nói láo (hồi ký, 1969)
Phong cách sáng tác
– Vũ Bằng không chỉ là một nhà báo sắc sảo mà còn là một nhà văn tài hoa, giàu cảm xúc. Văn chương của ông phản ánh rõ chân dung một con người tinh tế, nhạy cảm với cuộc sống, luôn thiết tha đi tìm và ngợi ca cái đẹp, đồng thời không ngần ngại vạch trần cái xấu, cái giả dối. Trong từng trang viết, Vũ Bằng bộc lộ một tình yêu sâu nặng với quê hương, đất nước, với con người Việt Nam và những giá trị văn hóa truyền thống.
– Phong cách của ông là sự kết hợp hài hòa giữa một trái tim trữ tình, một tâm hồn lãng mạn và một nền tảng tri thức sâu rộng được tích lũy từ việc đọc, nghiên cứu, trải nghiệm. Những trang văn của Vũ Bằng luôn thấm đẫm cảm xúc, đậm chất trữ tình và mang dấu ấn riêng không thể trộn lẫn. một phong cách vừa chân thực, vừa tài hoa, khiến người đọc rung động và suy ngẫm.
Nhận định và đánh giá
– Nhà văn Vũ Ngọc Phan: Tiểu thuyết của Vũ Bằng rất gần với tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan về lối tả cảnh và nhân vật, dù là họ ở vào cảnh nghèo khổ hay cảnh giàu sang, bao giờ Vũ Bằng cũng tả bằng ngọn bút dí dỏm, nhạo đời hơi đá hoạt kê một chút; còn về cảnh, ông chỉ tả sơ sơ; ông chú trọng cả vào hành vi ấy là động tác của cuốn tiểu thuyết và gây nên những cảnh riêng biệt cho nhân vật…
– Nhà văn Tô Hoài: Những năm ấy Nam Cao đương ở với tôi trên Nghĩa Đô. Chúng tôi mải mê đọc Vũ Bằng… Nếu nhà nghiên cứu văn học nào lưu tâm đến những truyện ngắn Vũ Bằng thời kỳ ấy với truyện ngắn của Nam Cao và những truyện ngắn “Bụi ô tô”, “Một đêm sáng giăng suông”… của tôi trên báo Hà Nội Tân văn có thể dễ dàng nhận thấy hai ngòi bút này hơi hướng Vũ Bằng. Chính chúng tôi vẫn thường thành tâm tự nhận xét ảnh hưởng ấy với anh ấy…
– Thi sĩ Nguyễn Vỹ: Anh có lối tả chân thật đặc biệt và trào phúng chuyên môn, có khi rất nhẹ nhàng khả ái như Alphonse Daudet, có khi cầu kỳ lý thú như Courteline. Tôi không nói Vũ Bằng là một văn hào, nhưng chắc chắn anh là một nhà văn Việt Nam độc đáo trên lĩnh vực tả chân trào phúng, trước kia và bây giờ.
– Nhà văn Võ Phiến trong tác phẩm Văn Học Miền Nam: Vũ Bằng có lúc tay nầy một tờ báo của Vũ Đình Long, tay kia một tờ khác của Nguyễn Doãn Vượng; có lúc một mình trông nom cả ba tờ báo ở Sài Gòn là Đồng Nai, Sài Gòn Mai và Tiếng Dân; lại có lúc vừa viết cho Dân Chúng, làm tổng thư ký báo Tin Điện, lại vừa hợp tác với người thứ ba làm báo Vịt Vịt…
– Trong Từ điển văn học (bộ mới): Văn hồi ký của ông là loại văn trữ tình, giàu chất thơ, hướng vào biểu hiện nội tâm, hướng về phong cảnh thiên nhiên bốn mùa xứ sở. Các câu văn tràn đầy cảm xúc, cảm giác tinh tế. Cùng với Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội…đã góp phần định hình kiểu hồi ký trữ tình độc đáo. Có thể xem đây là một đóng góp quan trọng của Vũ Bằng vào thể ký nói riêng và nền văn học hiện đại nói chung
