Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn là người anh hùng dân tộc tài năng, anh dũng trong lịch sử Việt Nam. Bài viết dưới đây khái quát Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác của Nhà thơ, nhà văn Trần Quốc Tuấn.

Tiểu sử
– Trần Quốc Tuấn (1231 – 1300), tức Hưng Đạo Vương là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc.
– Ông sinh năm 1231 tại làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, vùng đất vốn là quê hương phát tích của vương triều nhà Trần. Ông mất năm 1300, hưởng thọ gần 70 tuổi.
– Ông là con trai thứ ba của Khâm Minh đại vương Trần Liễu, anh ruột vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh), vì vậy Trần Quốc Tuấn gọi Trần Thái Tông bằng chú ruột.
– Về thân mẫu, sử cũ không ghi rõ. Một số giả thuyết cho rằng mẹ ông là Thiện Đạo quốc mẫu, húy Nguyệt, người trong tôn thất họ Trần, vốn là kế thất của Trần Liễu sau khi công chúa Thuận Thiên được gả cho Trần Thái Tông. Sau khi Trần Liễu mất (1251), bà xuất gia, lấy pháp hiệu Diệu Hương. Ông còn có mẹ nuôi đồng thời là cô ruột là Thụy Bà công chúa, người thương yêu, dạy dỗ ông từ nhỏ.
Sự nghiệp
-
Năm 1257, khi quân Mông Cổ lần thứ nhất xâm lược Đại Việt, Trần Quốc Tuấn được vua Trần Thái Tông phong làm đại tướng, chỉ huy lực lượng ở biên giới chống giặc. Sau chiến dịch, ông lui về thái ấp ở Vạn Kiếp.
-
Tháng 10 âm lịch năm 1283, trước nguy cơ nhà Nguyên chuẩn bị xâm lược lần thứ hai, ông được vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc công tiết chế, nắm quyền thống lĩnh toàn bộ quân đội Đại Việt.
-
Năm 1285, quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy tràn sang xâm lược nước ta. Trần Hưng Đạo chỉ huy cuộc kháng chiến, lập nhiều chiến công vang dội, chặn đứng bước tiến của giặc, buộc Thoát Hoan phải chui ống đồng trốn về nước.
-
Năm 1288, quân Nguyên tiếp tục xâm lược lần thứ ba. Trần Hưng Đạo vẫn được phong làm Quốc công tiết chế, lãnh đạo quân dân Đại Việt giành thắng lợi vang dội, đỉnh cao là trận Bạch Đằng, tiêu diệt hoàn toàn đạo quân xâm lược.
-
Tháng 4 âm lịch năm 1289, vua Trần Nhân Tông phong ông tước hiệu Đại vương, ghi nhận công lao to lớn bảo vệ non sông.
-
Sau đó, ông lui về sống ở Vạn Kiếp, chuyên tâm dạy binh pháp, rèn luyện quân đội, trông coi vùng biên cương đến khi mất năm 1300.
- Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng Tám năm Canh tý (3-IX-1300) tại Vạn Kiếp. Sau khi mất, ông được triều đình phong tặng Thái Sư Thượng Phụ Thượng Quốc Công, Nhân võ Hưng Đạo Đại Vương. Đền thờ ông tại Vạn Kiếp gọi là “Đền Kiếp Bạc”.
Tác phẩm tiêu biểu
– Binh gia diệu lý yếu lược (Còn gọi là Binh thư yếu lược).
– Vạn Kiếp tông bí truyền thư.
– Dụ chư tỳ tướng hịch văn (Còn gọi là Hịch tướng sĩ).
– Ông được xếp vào danh sách Mười Đại nguyên soái Thế giới kiệt xuất nhất
Phong cách sáng tác
– Trần Quốc Tuấn không chỉ là một vị tướng kiệt xuất, đa tài, mà còn là một cây bút lớn của nền văn học dân tộc. Thông minh từ thuở nhỏ, tinh thông binh pháp, ông đã chỉ huy binh lính lập bao chiến công hiển hách, giữ vững giang sơn trước giặc Nguyên Mông. Đặc biệt, với tác phẩm “Hịch tướng sĩ”, ông còn cho thấy một tâm hồn sâu sắc, tài năng văn chương hiếm có ở một người làm quan võ.
– Nội dung của bài hịch chính là tấm gương phản chiếu tâm hồn yêu nước nồng nàn của Trần Quốc Tuấn. Ông khơi dậy tinh thần đoàn kết, ý chí căm thù giặc, quyết chiến quyết thắng để bảo vệ bờ cõi. “Hịch tướng sĩ” được xem là áng văn chính luận mẫu mực, lập luận chặt chẽ, lý lẽ sắc bén, mạch lạc, kết cấu chắc chắn. Ngôn ngữ của ông giàu hình ảnh, gợi mở, giàu cảm xúc, dung hòa giữa lý trí và tình cảm. Lời văn vang lên như một khúc quân hành mạnh mẽ, rắn rỏi, thôi thúc từng trái tim hướng về Tổ quốc.
– Chính vì vậy, tác phẩm của Trần Quốc Tuấn không chỉ dừng lại ở giá trị thuyết phục mạnh mẽ mà còn vang lên như một tiếng gọi thiêng liêng của non sông, lan tỏa tinh thần yêu nước và hun đúc ý chí kiên cường cho bao thế hệ người Việt. Người đọc khi đến với “Hịch tướng sĩ” vẫn luôn xúc động, tự hào, cảm phục trước tinh thần đoàn kết và lòng trung nghĩa son sắt của ông cha thuở trước.
