Nhà văn Nguyên Hồng (Tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm, phong cách sáng tác)

Bài viết dưới đây khái quát Tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm, phong cách sáng tác về nhà văn Nguyên Hồng

Nhà văn Nguyên Hồng (Tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm, phong cách sáng tác)

Tiểu sử

– Nguyên Hồng (5/11/1918 – 2/5/1982), tên khai sinh là Nguyễn Nguyên Hồng, là nhà văn, nhà thơ nổi bật của văn học Việt Nam hiện đại.

– Ông sinh ra tại phố Hàng Cau, nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, thành phố Nam Định, nhưng phần lớn tuổi thơ và cuộc đời gắn bó với thành phố cảng Hải Phòng, trong một xóm lao động nghèo.

– Cha ông làm cai đề lao, sau thất nghiệp, nghiện ngập rồi mắc bệnh lao; mẹ ông hiền hậu, tần tảo, giàu đức hi sinh. Ngay từ năm bảy, tám tuổi, Nguyên Hồng đã phải sống trong bầu không khí gia đình lạnh lẽo, gượng gạo, thiếu hạnh phúc.

– Mới 12 tuổi, ông mồ côi cha, mẹ đi bước nữa, để lại Nguyên Hồng sống nhờ nhà bà nội và phải chịu sự khinh miệt của chính cô ruột. Tuổi còn nhỏ mà ông đã phải bươn chải, tự lo kiếm sống để tiếp tục việc học.

– Đến năm 16 tuổi, học xong tiểu học, Nguyên Hồng phải thôi học, cùng mẹ vào Hải Phòng mưu sinh. Ông đi gõ cửa khắp nơi xin việc mà vẫn thất nghiệp, cuối cùng dừng lại ở xóm Cấm, Hải Phòng, sống bằng nghề dạy học tư cho con em lao động nghèo, cũng chính là nguồn chất liệu dồi dào nuôi dưỡng tâm hồn nhà văn sau này.

Sự nghiệp

– Năm 1936, Nguyên Hồng bắt đầu con đường văn chương với truyện ngắn đầu tay Linh hồn, mở ra những trang viết thấm đẫm hơi thở cuộc sống của người lao động nghèo.

– Năm 1937, ông nhanh chóng ghi dấu ấn trên văn đàn với tiểu thuyết Bỉ vỏ, tác phẩm táo bạo phơi bày tận cùng thân phận tủi nhục của tầng lớp dưới đáy xã hội, khẳng định tên tuổi của Nguyên Hồng trong nền văn học hiện đại.

– Trong giai đoạn 1936-1939, ông tích cực tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ ở Hải Phòng, dùng ngòi bút để bênh vực người cùng khổ.

– Tháng 9/1939, Nguyên Hồng bị mật thám Pháp bắt, đến năm 1940 bị đưa đi trại tập trung ở Bắc Mê (Hà Giang). Trải nghiệm gian khổ này càng hun đúc tinh thần chiến đấu và ý chí nghệ sĩ của ông.

– Năm 1943, ông tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc bí mật cùng nhiều cây bút lớn như Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng… và trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Sau Cách mạng, Nguyên Hồng tiếp tục hoạt động văn nghệ sôi nổi. Năm 1957, ông là một trong những hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, đồng thời giữ chức Ủy viên Ban Chấp hành Hội (khóa I và II).

– Ông còn làm biên tập viên tạp chí Văn nghệ, tham gia Ban phụ trách tuần báo Văn, tiếp tục cống hiến cho nền văn học cách mạng đến cuối đời.

– Nhờ vậy, Nguyên Hồng không chỉ để lại nhiều tác phẩm giá trị mà còn là tấm gương sáng về một nhà văn suốt đời gắn bó, chiến đấu vì nhân dân lao động.

Phong cách sáng tác

– Nguyên Hồng được mệnh danh là “nhà văn của những người cùng khổ”, “nhà văn viết cho phụ nữ và trẻ em”, bởi suốt đời ông dành trọn tình thương và ngòi bút cho những kiếp người bất hạnh, lam lũ. Từ khi còn rất trẻ, mới 17 tuổi, giữa cảnh thiếu cơm ăn áo mặc, ông đã bắt đầu cầm bút, và rồi suốt cả đời, dù bệnh tật hay cận kề cái chết, vẫn không ngừng miệt mài sáng tác.

– Vốn sinh ra, lớn lên trong xóm nghèo, từ bé đã chứng kiến nỗi khổ đau của những phận thấp hèn, Nguyên Hồng sớm có được sự nhạy cảm và đồng cảm đặc biệt với tầng lớp lao động. Khi tiếp xúc với những luồng tư tưởng tiến bộ, ông càng ý thức sâu sắc hơn về sự áp bức, bất công mà người nghèo, nhất là phụ nữ và trẻ em phải gánh chịu.

– Nguyên Hồng viết ở nhiều thể loại, nhưng nổi bật nhất là ở những trang văn chan chứa tình người, giàu xúc động. Ông đã tự nhận: “Sáng tác – thật là rứt thịt mình ra.” Văn của ông chính là máu thịt, là tiếng nói thương yêu, bảo vệ và bênh vực những con người nhỏ bé nhất.

– Một minh chứng cảm động là đoạn trích Trong lòng mẹ, nơi Nguyên Hồng đã tái hiện tuổi thơ tủi cực của chính mình qua nhân vật bé Hồng: đứa trẻ lớn lên giữa khói thuốc phiện, sự ghẻ lạnh của họ hàng, khắc khoải chờ mong mẹ. Đằng sau đó, ta thấy tình mẫu tử thiêng liêng vẫn bùng cháy mãnh liệt, xoa dịu mọi đau đớn. Nhờ vậy, văn chương Nguyên Hồng không chỉ phản ánh hiện thực khốc liệt, mà còn nâng niu, ca ngợi tình người làm lay động trái tim bao thế hệ độc giả.

–  Ông từng cho rằng: “Tôi sẽ viết về những cảnh đói khổ, về những sự áp bức, về những nỗi trái ngược bất công. Tôi sẽ đứng về phía những con người lầm than bị đày đọa, bị lăng nhục. Tôi sẽ vạch trần ra những vết thương xã hội, những việc làm bạo ngược lộng hành của xã hội thời bấy giờ. Tôi sẽ gánh lấy mọi trách nhiệm, chống đối cũng như bào chữa, bảo vệ. Tôi sẽ chỉ có tiến bước, chỉ có đi thẳng. Tôi sẽ chỉ biết có ánh sáng. Và chính tôi là ánh sáng”.

Tác phẩm tiêu biểu

– Ông viết nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, thơ.

– Các tác phẩm chính:

+ Bỉ vỏ (tiểu thuyết, 1938);

+ Những ngày thơ ấu (hồi kí, 1938);

+ Trời xanh (tập thơ, 1960);

+ Cửa biển (bộ tiểu thuyết 4 tập: 1961, 1967, 1973, 1976);

+ Núi rừng Yên Thế (bộ tiểu thuyết lịch sử nhiều tập chưa viết xong);

+ Bước đường viết văn (hồi kí, 1970).

3.5/5 - (4 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *