Bài viết dưới đây khái quát về tiểu sử, phong cách nghệ thuật, nhận định đánh giá và một số giải thưởng của nhà thơ Y Phương.

Tiểu sử
– Y Phương, tên thật là Hứa Vĩnh Sước, sinh năm 1948 tại làng Hiếu Lễ, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Ông là người dân tộc Tày – một trong những tiếng nói thiêng liêng đã góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn học Việt Nam hiện đại.
– Năm 1968, ông nhập ngũ và phục vụ trong quân đội cho đến năm 1981, sau đó chuyển về công tác tại Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Cao Bằng. Năm 1993, ông được bầu làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Cao Bằng, tiếp tục có nhiều đóng góp cho hoạt động văn hóa, văn học địa phương.
– Nhà thơ Y Phương được xem là một trong những tiếng nói tiêu biểu của các nhà thơ dân tộc thiểu số trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại. Ông được ví như người đã “kê cao quê hương bằng thơ”, bởi thơ ông không chỉ là tiếng lòng cá nhân mà còn cất lên âm vang của núi rừng, bản làng, của cội nguồn văn hóa dân tộc. Với nguồn cảm hứng sâu đậm từ vùng đất Trùng Khánh – Cao Bằng, ông còn được nhiều người trìu mến gọi là “người trai làng Hiếu Lễ”.
– Nhà thơ Y Phương bén duyên với thi ca từ khá sớm, nhưng phải đến năm 1973, khi hai bài thơ đầu tiên của ông là “Bếp nhà trời” và “Dáng một con sông” được đăng báo, ông mới thực sự cảm nhận được niềm hạnh phúc mãnh liệt của một người cầm bút. Từng là người lính nhập ngũ năm 1968, Y Phương phục vụ trong quân đội đến năm 1981 thì chuyển về công tác tại Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Cao Bằng.
– Không ngừng khát khao học hỏi, ông đã hiện thực hóa giấc mơ thời trẻ bằng việc theo học Trường Điện ảnh Việt Nam (1976–1979), sau đó tiếp tục học tại Trường Viết văn Nguyễn Du (khóa II, 1982–1986). Trở về Cao Bằng, ông giữ nhiều vị trí quan trọng: Phó Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin (từ năm 1991), Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Cao Bằng (1993–2008), đồng thời là Ủy viên Ban Chấp hành và Trưởng ban Kiểm tra Hội Nhà văn Việt Nam khóa VI. Suốt hành trình ấy, Y Phương vừa cống hiến cho văn nghệ địa phương vừa đều đặn sáng tác, đóng góp tiếng nói thơ ca giàu bản sắc cho văn học dân tộc thiểu số.
Tác phẩm tiêu biểu
– Y Phương là tác giả của nhiều tập thơ và văn xuôi đậm chất miền núi, mang hơi thở của văn hóa Tày, tiêu biểu như:
- Người của núi” (1982) tập kịch
- Tháng Giêng – tháng Giêng một vòng dao quắm (2009) tản văn
- Kungfu người Co Xàu (2010) tản văn
- Nói với con (1980) tập thơ
- Người núi Hoa (1982) tập thơ
- Tiếng hát tháng giêng (1986) tập thơ
- Lửa hồng một góc (1987) tập thơ
- Lời chúc (1991) tập thơ
- Đàn then (1996) tập thơ
- Thơ Y Phương (2002) tập thơ
Phong cách nghệ thuật
– Thơ Y Phương là tiếng nói chân thành của một tâm hồn mạnh mẽ, trong trẻo và giàu tình cảm, phản ánh cách tư duy giàu hình ảnh, giàu cảm xúc của con người vùng cao. Qua từng câu chữ, ta cảm nhận được vẻ đẹp mộc mạc, gần gũi nhưng không kém phần sâu sắc, mang nét đặc trưng của người dân tộc Tày nói riêng và đồng bào miền núi phía Bắc nói chung.
– Y Phương là một nhà thơ có phong cách riêng biệt. Khi sáng tác, ông không chạy theo lối mòn mà luôn nỗ lực tìm tòi cái mới, cái độc đáo. Những vần thơ của ông mang hơi thở của núi rừng, của tiếng then, tiếng đàn tính, mang hồn vía của một nền văn hóa dân tộc lâu đời. Chính điều đó tạo nên sắc thái riêng không thể trộn lẫn của thơ Y Phương.
– Thơ ông vừa phong phú về màu sắc, vừa đậm đà bản sắc. Trong muôn vẻ ngôn ngữ và hình ảnh, vẫn luôn nổi bật một âm điệu chủ đạo: chất dân tộc, chất miền núi thấm đẫm từ nội dung đến hình thức. Y Phương đã vận dụng thành công vốn văn hóa dân gian Tày vào thơ hiện đại, làm nên một dòng chảy riêng giữa thơ ca đương thời.
– Tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc là cảm hứng lớn trong sáng tác của Y Phương. Ông không chỉ viết về cá nhân mình mà còn khái quát thành thân phận và vẻ đẹp của cả cộng đồng, những con người sống nơi núi cao sương phủ, cần cù, giản dị và giàu sức sống. Nhờ đó, thơ Y Phương trở thành tiếng nói vừa riêng tư vừa cộng đồng, vừa tự sự vừa khẳng định giá trị văn hóa dân tộc trên thi đàn Việt Nam hiện đại.
Giải thưởng
- Giải A cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội (1984)
- Giải A của Hội Nhà văn Việt Nam (1987) với tập thơ Tiếng hát tháng giêng
- Giải A của Hội đồng Văn học dân tộc – Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ Lời chúc
- Giải B của Ủy ban Toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam với tập trường ca Chín tháng (2001)
- Giải B của Bộ Quốc phòng với trường ca Chín tháng (2001)
- Giải thưởng Nhà nước về Văn học-Nghệ thuật năm 2007
- Giải thưởng Hội văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2011 cho tản văn “Kungfu người Co Xàu”
- Bằng khen của Hội Nhà văn Việt Nam cho “Tháng Giêng – tháng Giêng một vòng dao quắm” (năm 2010)
Nhận định và đánh giá về tác giả Y Phương
– “Chất thơ sung mãn, lối viết khoáng đạt giàu hình ảnh, giàu sắc thái dung hòa con người với tự nhiên đã tạo cho thơ Y Phương có sức sống rất bền. Đó chính là giá trị nhân văn làm nên vẻ đẹp của phong cách thơ Y Phương.”
– “Y Phương là người có quan niệm sống, quan niệm nghệ thuật một cách rõ ràng, một nhà thơ có tư tưởng, có quan niệm nghệ thuật là biểu hiện của một nhà thơ lớn.”
– “Y Phương trước sau nhất quán một xác tín nghề nghiệp”. Như nhiều người cầm bút khác, Y Phương đã trăn trở trên từng trang viết, “luôn đòi hỏi cao với bản thân” trau chuốt lại những vần thơ đã ra đời, đó cũng là điều hay gặp ở nhiều người sáng tác có ý thức.”
– “Thơ Y Phương bình dị, chân chất, hồn nhiên, giấu cất mà không he hé lộ thiên, lặng lẽ mà bùng nổ, nhẩn nha như chính cuộc đời ông, con người ông.”
– “Tôi đọc thơ Y Phương (Hứa Vĩnh Sước), một nhà thơ “cùng một lứa bên trời lận đận” như tôi, cũng khá đều đều trên mặt báo. Nhưng mãi gần đây, nhân trường Đại học Văn hoá tổ chức Ngày thơ Việt Nam, đầu năm Tân Mão, mới tình cờ gặp anh, tác giả bài thơ “Nói với con” thủa nào. Thế là người thơ, tác giả “Nói với con” đã ở ngay bên cạnh tôi đây, hồn nhiên, chân mộc, như chính bản chất người vùng cao Việt Bắc vậy!
