Bài viết khái quát Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, nhận định về nhà thơ Trần Tế Xương

Tiểu sử
– Trần Tế Xương sinh ngày 10-8-1871 tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, và mất ngày 20-1-1907 tại làng Địa Tứ, cùng huyện.
– Ông tên thật là Trần Duy Uyên, tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, thường được gọi thân mật là Tú Xương. Đến khi dự thi Hương, ông đổi tên thành Trần Tế Xương, về sau từng đổi thành Trần Cao Xương với hy vọng thay đổi vận đen trên con đường thi cử.
– Từ nhỏ, Trần Tế Xương đã được cho đi học sớm, nổi tiếng thông minh, lanh lợi. Thế nhưng con đường khoa cử của ông lại vô cùng lận đận. Trong suốt cuộc đời, ông tham gia tới 8 kỳ thi Hương, gồm các khoa:
-
Bính Tuất (1886), Mậu Tý (1888), Tân Mão (1891), Giáp Ngọ (1894), Đinh Dậu (1897), Canh Tý (1900), Quý Mão (1903) và Bính Ngọ (1906).
– Mãi đến khoa thi lần thứ tư (Giáp Ngọ 1894) ông mới đậu Tú tài, nhưng cũng chỉ là tú tài “thiên thủ” (lấy thêm cho đủ chỉ tiêu), sau đó dù rất kiên trì theo đuổi vẫn không vượt qua được kỳ thi cử nhân. Thậm chí khoa Quý Mão (1903), ông còn đổi tên thành Trần Cao Xương với mong muốn thay đổi vận rủi, nhưng kết quả vẫn không khá hơn.
– Dấu ấn “thi rớt” ấy in đậm trong tâm thức ông, trở thành một nỗi niềm cay đắng được đưa vào thơ với giọng trào lộng chua chát mà sâu sắc.
– Ông kết hôn với bà Phạm Thị Mẫn, hai người có với nhau tám người con (sáu trai, hai gái). Cuộc sống gia đình khá vất vả, đông con, kinh tế lại eo hẹp, khiến bà Tú phải quán xuyến tất cả, trở thành hình ảnh người phụ nữ đảm đang, hy sinh mà ông hết mực trân trọng, ngợi ca qua nhiều câu thơ.
Phong cách sáng tác
– Dù sự nghiệp cầm bút không kéo dài, Trần Tế Xương vẫn để lại một gia tài văn học đáng nể với hơn 150 bài thơ đủ các thể loại, trở thành một hiện tượng đặc sắc trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.
– Thơ ông chủ yếu tập trung vào những đề tài quen thuộc nhưng lại được khai thác dưới góc nhìn sắc sảo, mới mẻ: khoa cử, nho học đang trên đà suy tàn, và cảnh nghèo đói, cơ cực của người dân trong bối cảnh xã hội thuộc địa. Ông đặc biệt dành nhiều bút lực để phê phán mạnh mẽ sự thối nát của chế độ phong kiến, đả kích bọn quan lại tay sai, lên án sự tàn ác của thực dân Pháp, đồng thời luôn đứng về phía những con người nghèo khổ, lương thiện.
– Trần Tế Xương còn nổi tiếng với giọng thơ trào phúng, châm biếm sắc sảo, giàu tính đả kích mà vẫn đầy tính nghệ thuật, tạo nên một phong cách thơ vừa dí dỏm, hóm hỉnh, vừa thấm đượm nỗi xót xa cho thời cuộc.
– Bên cạnh mảng đề tài phê phán xã hội, ông còn để lại những vần thơ chan chứa tình cảm gia đình, tiêu biểu là những bài thơ viết về người vợ tảo tần của mình. Bài thơ “Thương vợ”, sáng tác theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, không chỉ bày tỏ tình yêu thương sâu nặng với người phụ nữ hy sinh vì chồng con, mà còn trở thành lời ca ngợi hình ảnh người phụ nữ Việt Nam cần cù, nhẫn nại, giàu đức hi sinh.
– Có thể nói, thơ Trần Tế Xương tuy ngắn gọn, sắc lẹm nhưng giàu ý nghĩa xã hội và nhân văn, để lại dấu ấn đặc biệt trong lòng nhiều thế hệ độc giả.
Những tác phẩm tiêu biểu
– Văn thơ Trần Tế Xương – nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội
– Tú Xương con người và nhà thơ của Trần Thanh Mại, Trần Tuấn Lộ – nhà xuất bản Văn hóa
– Thơ văn Trần Tế Xương – nhà xuất bản Văn học (1970)
– Tú Xương thi tập do nhà sách Phúc Chí – 95 Hàng Bồ, Hà Nội
– Trông dòng sông Vị (Văn chương và thân thế Trần Tế Xương)
– Vị Xuyên thi văn tập của Sở Cuồng (tức Lê Dư), Nam Kỳ thư quán (1931 – sau có tái bản)
Nhận định
– Nguyễn Công Hoan suy tôn Tú Xương là bậc thần thơ thánh chữ.
– Xuân Diệu xếp hạng Tú Xương thứ 5 sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Đoàn Thị Điểm.
– Tản Đà khi còn sống “trong những thi sĩ tiền bối, phục nhất Tú Xương” (Xuân Diệu kể vậy). Tản Đà tự nhận trong đời thơ của mình mới địch nổi Tú Xương một lần thôi bằng chữ “vèo” trong bài thơ Cảm thu, Tiễn thu của ông: Vèo trông lá rụng đầy sân. Nguyễn Công Hoan cũng kể vậy.
– Nguyễn Tuân biểu dương Tú Xương là: một người thơ, một nhà thơ vốn nhiều công đức trong cuộc trường kỳ xây dựng tiếng nói văn học của dân tộc Việt Nam.
