Thơ Tế Hanh mang vẻ đẹp trong trẻo, mộc mạc và giàu chất trữ tình, thấm đẫm tình yêu quê hương với những hình ảnh thiên nhiên, con người bình dị mà sâu lắng. Bài viết dưới đây Khái quát về Nhà thơ Tế Hanh
Tiểu sử
– Tế Hanh (20/6/1921 – 2009), tên khai sinh là Trần Tế Hanh, là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới.
– Ông sinh ra tại làng Đông Yên, phủ Bình Sơn (nay thuộc xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), trong một vùng quê ven biển giàu truyền thống văn hóa. Thuở nhỏ, Tế Hanh học ở trường làng, trường huyện; năm 1936, khi 15 tuổi, ông ra Huế theo học tại trường Khải Định (Quốc học Huế).
– Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tích cực tham gia các hoạt động cách mạng, làm công tác văn hóa, văn nghệ tại Huế và Đà Nẵng. Từ sau năm 1954, ông giữ nhiều cương vị quan trọng trong Hội Nhà văn Việt Nam.

Sự nghiệp
– Tế Hanh bắt đầu làm thơ từ rất sớm. Năm 1938, khi mới 17 tuổi, ông sáng tác bài thơ đầu tay Những ngày nghỉ học, dưới sự hướng dẫn của nhà thơ Huy Cận. Những sáng tác đầu tiên của ông được tập hợp trong tập thơ Nghẹn ngào.
– Năm 1941, thơ Tế Hanh với các bài tiêu biểu như Quê hương, Lời con đường quê, Vu vơ, Ao ước được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu trong công trình nổi tiếng Thi nhân Việt Nam (xuất bản năm 1942), khẳng định vị trí của ông trong phong trào Thơ mới.
– Sau Cách mạng tháng Tám, Tế Hanh tham gia Việt Minh, hoạt động văn hóa, giáo dục tại miền Trung và từng đảm nhiệm vai trò Ủy viên giáo dục trong Ủy ban lâm thời thành phố Đà Nẵng.
– Từ năm 1949 đến 1954, ông tham gia Ban phụ trách Chi hội Văn nghệ Liên khu V. Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc, tiếp tục công tác tại Hội Văn nghệ và khi Hội Nhà văn Việt Nam được thành lập năm 1957, ông là Ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và tham gia Ban Biên tập tuần báo Văn.
– Thơ Tế Hanh giàu cảm xúc, trong sáng, đậm hồn quê và tình yêu tha thiết với con người, quê hương đất nước, để lại dấu ấn bền vững trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại.
Tác phẩm tiêu biểu
– Thơ:
+ Những ngày nghỉ học (1938)
+ Nghẹn ngào (1939), 47 nhà thơ đã rút bài thơ “Quê hương” sang tập “Hoa Niên”(1945)
+ Hoa niên (1945)
+ Tập thơ tìm lại (1945)
+ Hoa mùa thi (1948)
+ Nhân dân một lòng (1952)
+ Gửi miền Bắc (1955)
+ Lòng miền Nam (1956): 20 bài thơ
+ Tiếng sóng (1960): 15 bài thơ
+ Bài thơ tháng bảy (1962)
+ Hai nửa yêu thương (1967)
+ Khúc ca mới (1967), 44 bài thơ
+ Đi suốt bài ca (1970)
+ Câu chuyện quê hương (1973)
+ Theo nhịp tháng ngày (1974)
+ Giữa những ngày xuân (1976)
+ Con đường và dòng sông (1980)
+ Bài ca sự sống (1985)
+ Tuyển tập Tế Hanh, tập I (1987)
+ Thơ Tế Hanh (1989)
+ Vườn xưa (1992)
+ Giữa anh và em (1992)
+ Em chờ anh (1993)
+ Tuyển tập Tế Hanh, tập II (1997)
+ Nhớ con sông quê hương
– Thơ thiếu nhi:
+ Chuyện em bé cười ra đồng tiền (1960)
+ Những tấm bản đồ (1965)
+ Thơ viết cho con (1974)
+ Tiếng sáo, tiếng đàn, tiếng hát (1983): thơ thiếu nhi
– Phê bình văn học:
+ Tập tiểu luận phê bình thơ và cuộc sống mới (1961)
Phong cách sáng tác
– Tế Hanh là một trong những nhà thơ tiêu biểu mang đến cho thi đàn Việt Nam một giọng điệu riêng biệt, trong trẻo và đậm chất chân quê. Thơ ông mộc mạc, giản dị, nhẹ nhàng nhưng giàu sức gợi, thấm đẫm hơi thở của đời sống làng quê và biển cả. Với ngôn ngữ gần gũi, hình ảnh quen thuộc, thơ Tế Hanh không cầu kỳ về hình thức mà hướng tới sự chân thành trong cảm xúc, lấy cái bình dị làm nền để tỏa sáng vẻ đẹp tinh thần.
– Nổi bật trong phong cách sáng tác của ông là cảm hứng tha thiết về quê hương, đặc biệt là miền biển nơi ông sinh ra và lớn lên. Quê hương trong thơ Tế Hanh hiện lên vừa cụ thể, sinh động qua màu sắc, âm thanh, nhịp sống, vừa thấm đẫm tình cảm yêu thương, gắn bó sâu nặng của người con xa xứ. Thiên nhiên, con người và lao động đời thường được nhìn bằng con mắt tinh tế, nhạy cảm, giàu rung động thẩm mĩ.
– Thơ Tế Hanh cũng giàu chất trữ tình, thường lắng sâu vào những suy tư nhẹ nhàng, trong sáng về cuộc sống, con người và thời gian. Không ồn ào, dữ dội, thơ ông đi vào lòng người bằng sự êm dịu, bền bỉ, đánh thức những cảm xúc đẹp đẽ, bình yên vốn sẵn có trong mỗi tâm hồn. Chính sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc chân thành, hình ảnh giàu sức gợi và giọng thơ mộc mạc đã tạo nên phong cách thơ Tế Hanh – giản dị mà sâu sắc, gần gũi mà bền lâu trong lòng bạn đọc.
Giải thưởng
– Giải thưởng văn học Tự lực văn đoàn (năm 1939)
– Giải thưởng Phạm Văn Đồng do Hội Văn nghệ Liên khu V tặng.
– Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật đợt I năm 1996
Nhận định
– Nhà phê bình văn học Hoài Thanh và Hoài Chân: “Tế Hanh là một người tinh lắm, Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương. Người nghe thấy được cả những điều không hình sắc, không thanh âm như mảnh hồn làng, trên cánh buồm giương, như tiếng hát của hương đồng quyến rũ, con đường quê nho nhỏ. Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi…”
– Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn: “Trong thơ Việt Nam tiền chiến, ông chưa bao giờ tạo được một sự hấp dẫn lạ lùng như Hàn Mặc Tử hoặc Nguyễn Bính, cũng không có lúc nào làm chủ thi đàn như Thế Lữ hoặc Xuân Diệu. Nhưng ông vẫn có chỗ của mình. Tập ‘Nghẹn ngào’ từng được giải thưởng Tự Lực văn đoàn. Từ sau 1945, ông vẫn làm thơ đều đều, những tập thơ mỏng mảnh, giọng thơ không có gì bốc lên nồng nhiệt, nhưng được cái tình cảm hồn nhiên, và tập nào cũng có một ít bài đáng nhớ, khiến cho ngay sau Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu người ta nghĩ ngay đến Tế Hanh”
– Nhà văn Nhất Linh: “Tế Hanh có rất nhiều hứa hẹn trở nên một thi sĩ có tài, ông có một linh hồn rất phong phú, có những rung động rất sâu sắc; và để diễn tả tâm hồn, ông có đủ nghệ thuật và cách đặt tìm câu chữ
– Hoài Thanh : “Tế Hanh sở dĩ nhìn đời một cách sâu sắc như thế là vì người có sẵn một tâm hồn tha thiết.”
– Nhà thơ Chế Lan Viên: “Dù anh viết khá hay về biển, biển trong bão dữ, nghĩ đến anh, tôi vẫn nghĩ đến cái êm đềm của những dòng sông. Chim anh viết hay, không phải hải âu mà là chim én. Anh có thể tả mùa hè rực rỡ nhưng hình như anh xúc động nhất mùa thu… Nếu vào trong khu vườn, Xuân Diệu sẽ ngoạm vào các trái hồng lẫn trái xanh, Huy Cận lắng nghe chất nhựa trên cành, người nào đó sẽ hì hục tìm thơ trong bộ rễ âm thầm, còn với Hanh thì màu xanh của lá cũng đủ cho anh hạnh phúc”
– Nhà thơ, dịch giả Bằng Việt: “Tế Hanh dịch thơ rất tài hoa, và nhiều bài thơ dịch của anh đã trở thành những bản dịch mẫu mực, khó ai vượt qua nổi”
