Phan Văn Dật là nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Giọng thơ ông riêng biệt, nói lên những phận người đặc biệt. Bài viết dưới đây khái quát về Tiểu sử của Nhà thơ Phan Văn Dật
Tiểu sử
– Phan Văn Dật sinh ngày 17 tháng 8 năm 1907 tại phủ An Thường công chúa, xóm Xuân An, làng Phú Xuân (nay thuộc phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế). Quê gốc của ông ở làng Đạo Đầu, xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
– Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa bảng và gắn bó với hoàng tộc. Cha là Phan Văn Dư, Thị độc đại học sĩ triều Nguyễn; dòng tộc ông có tổ tiên là Đô thông hậu quân Phan Văn Thúy, bộ tướng của chúa Nguyễn Ánh, và An Thường công chúa, con vua Minh Mạng.
– Thuở nhỏ, Phan Văn Dật học chữ Hán, sau chuyển sang học chữ quốc ngữ tại Trường Quốc Học Huế. Năm 1927, ông tốt nghiệp bằng Thành chung nhưng do hoàn cảnh gia đình, phải thôi học và vào làm thư ký tại Sở Trước bạ Đà Nẵng.
– Ông từng đảm nhận nhiều công việc trong các cơ quan hành chính tại Huế như Nha Ngân khố Trung Kỳ, Sở Văn hóa, Nha Thông tin, Sở Ngân chánh Huế, đồng thời tham gia giảng dạy ở Trường Quốc Học Huế và Trường Nữ học Đồng Khánh.
– Năm 1951, ông được cử sang Pháp tu nghiệp tại Trường Trước bạ quốc gia Lyon đến năm 1952.
– Từ năm 1959, Phan Văn Dật công tác tại Viện Đại học Huế, giảng dạy tại Viện Hán học và kiêm nhiệm chức vụ Giám học đến năm 1963.
– Sau khi nghỉ hưu (1964), ông vẫn tiếp tục giảng dạy tại các trường Cao đẳng Mỹ thuật, Nông Lâm Súc, Bách khoa Bình dân và Trung học Đào Duy Từ.
– Ông qua đời tại Huế ngày 11 tháng 2 năm 1987, hưởng thọ 80 tuổi.

Sự nghiệp
– Phan Văn Dật là một trí thức tài hoa, am hiểu sâu rộng cả Đông lẫn Tây học. Ông hoạt động đa lĩnh vực: giảng dạy, nghiên cứu, dịch thuật, sáng tác văn học và làm thơ. Dưới các bút hiệu Tiêu Lang, Thường Nga Phố, ông đã để lại dấu ấn trong văn đàn tiền chiến với phong cách nhẹ nhàng, tinh tế và mang đậm nét tài tử xứ Huế.
– Trong văn chương, Phan Văn Dật hướng đến cái đẹp thanh nhã, nhẹ buồn và sâu sắc. Thơ ông thường mang âm hưởng “bâng khuâng”, gợi hoài niệm và cảm xúc tinh tế. Bên cạnh đó, ông cũng là người có đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa – Hán học, từng giảng dạy và biên soạn tài liệu cho Viện Đại học Huế, góp phần truyền bá tri thức cổ học cho thế hệ sau.
Tác phẩm chính
-
Bâng khuâng (tập thơ, 1935)
-
Diễm Dương trang (tiểu thuyết, đoạt giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn năm 1935)
-
Những ngày vàng lụa (thơ, đăng rải rác trên các báo, chưa in thành tập)
Ngoài ra, Phan Văn Dật còn có nhiều bài đăng trên các tạp chí uy tín như Nam Phong, Thực nghiệp dân báo, Thần Kinh tạp chí, Tràng An, Khuyến học, Rạng Đông, Cười… Ông cũng để lại một số công trình nghiên cứu và dịch thuật giá trị trong thời gian công tác tại Viện Đại học Huế.
Nhận xét
Phan Văn Dật là một người rất mê đọc sách báo, ngay từ 6 tuổi, ông đã biết để dành tiền mua chúng. Năm 1924, lúc 14 tuổi, ông bắt đầu sáng tác và có thơ văn đăng báo.
Tháng 12 năm 1935, Hoài Thanh và Hoài Chân có viết một bài về quyển thơ Bâng khuâng của ông trên báo Tràng An, sau được trích in lại trong quyển Thi nhân Việt Nam. Cùng năm này, tiểu thuyết Diễm Dương trang của ông được giải thưởng của Tự lực văn đoàn, và bài viết Nghệ thuật và nhân sinh của ông đăng trên tạp chí Khuyến học tại Hà Nội số ra ngày 15 tháng 12 năm 1935. Bài viết trên ngay sau đó đã bị báo chí thời bấy giờ lên tiếng phê phán và liệt ông vào phái ” nghệ thuật vị nghệ thuật” bên cạnh Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Thiếu Sơn, Lê Tràng Kiều…Và cũng chính vì theo khuynh hướng này, nên thơ ông thường đa sầu, hoài cổ và mộng mơ.
Nhận xét về tập thơ Bâng Khuâng, Hoài Thanh và Hoài Chân viết:
...Nguyễn Nhược Pháp với tập “Ngày xưa” đã nhìn vào cảnh vật xưa bằng con mắt một người thời nay, Phan Văn Dật với tập “Bâng khuâng” đã nhìn cảnh vật ngày nay sau bức màn một tâm hồn xưa…Giữa cuộc đời náo động, người ngoảnh mặt làm ngơ và tự tạo cho mình một thế giới riêng, một thế giới lặng lẽ đầy mơ mộng…
Tôi không hay hưởng cùng cái hiện tại.
Hững hờ, tôi thường để nó đi qua.
Chuyện ngày nay sau tôi sẽ xót xa,
Tôi chỉ tiếc những giờ không trở lại.
…Nói cho đúng, thi nhân chẳng phải hoàn toàn sống trong cảnh xưa cảnh mộng và cái thế giới chung quanh tuyệt không có trong con mắt thi nhân. Người cũng biết say vì cảnh đẹp thoáng qua trước mắt. Có lúc bỗng sực nhớ mình là một trai trẻ đương tuổi yêu, nghệ sĩ nắn mấy vần thơ:
Ca ngợi tình yêu, vẻ đẹp em,
Lời thơ réo rắt tôi săn tìm.
Cậy người mang tặng cho em đọc,
Em để vào ngăn em chẳng xem.
…Thơ Phan Văn Dật không rực rỡ không réo rắt, không hùng tráng, không làm tha bồi hồi ngây ngất, nhưng vẫn khiến ta ưa đọc: nó là những vần thơ dễ thương. Ta không cảm phục mà ta lưu luyến, cũng như ta lưu luyến đất Kinh đô là nơi quê hương của thi nhân…
Nhìn chung, thơ Phan Văn Dật ít tả cảnh mà thiên về tình, cái tình hoài niệm ấy lại thường gửi gắm qua một câu chuyện tự sự. Ở ông không có những cảm xúc cháy lên như Xuân Diệu, cũng không phải là một tiếng thơ gợi lại những gì mộc mạc, thôn dã kiểu Nguyễn Bính, mà là thứ tình cảm tiếc nuối, nhân hậu, hướng về những gì đã qua đi không trở lại… Phan Văn Dật sớm tiếp thu cổ văn Trung Quốc và văn học cổ điển Pháp, lại ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng tự do dân chủ, nhưng ông vẫn neo chặt ngòi bút của mình vào khuôn phép đạo đức truyền thống, tuy không quá cổ hủ song cũng không dám buông thả…Điều đó, không chỉ thể hiện trong nội dung thơ, mà nó còn biểu hiện phần nào ở thi pháp nghệ thuật của ông. Đa phần thơ ông làm theo lối thất ngôn, ngũ ngôn của Đường luật, lục bát và song thất lục bát chứ chưa dám bước sang ranh giới của lối thơ phá thể, thơ tự do…
