Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh là một cây bút trữ tình sâu sắc của hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ, với thơ ca giản dị, mộc mạc nhưng giàu cảm xúc, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước và con người một cách chân thành và bền bỉ. Bài viết dưới đây Khái quát về Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác của Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh.
Tiểu sử
– Phạm Ngọc Cảnh (1934 – 2014), bút danh Vũ Ngàn Chi, sinh tại thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình tiểu thị dân, được cha mẹ tạo điều kiện học tập đầy đủ.
– Cuộc đời riêng của ông gắn bó với hai người vợ: bà Vũ Thị Tỵ, diễn viên múa bị tai biến liệt toàn thân, và tác giả trẻ Cao Giáng Hương, người chăm sóc ông suốt quãng đời còn lại.

Sự nghiệp
– Ngay từ năm 12 tuổi, sau Cách mạng Tháng Tám, Phạm Ngọc Cảnh đã tình nguyện gia nhập Vệ quốc quân, làm liên lạc viên và tham gia đội tuyên truyền văn nghệ trung đoàn 103 Hà Tĩnh, đồng thời trở thành diễn viên kịch nói. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông biểu diễn với đoàn Văn công quân khu Trị Thiên tại Huế trong chiến dịch Mậu Thân và sau đó là diễn viên chủ lực của đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị. Bên cạnh diễn xuất, ông dành trọn tình cảm với thơ ca, được điều chuyển về Tạp chí Văn nghệ Quân đội, giữ chức biên tập thơ và là cán bộ sáng tác trong suốt 20 năm. Ông cũng tham gia viết kịch bản, bình luận văn học, dẫn các chương trình thơ trên phát thanh – truyền hình và giảng dạy về văn học.
Tác phẩm tiêu biểu
-
Gió vào trận bão (thơ, 1967)
-
Đêm Quảng Trị (thơ, 1972)
-
Ngọn lửa dòng sông (thơ, 1976)
-
Một tiếng Xamakhi (thơ, 1981, in chung với Duy Khán)
-
Lối vào phía Bắc (thơ, 1982)
-
Trăng sau rằm (thơ, 1985)
-
Đất hai vùng (thơ, 1986)
-
Miền hương lặng (thơ, 1992)
-
Nhặt lá (thơ, 1995)
-
Góc núi xôn xao (bút ký, 1999)
-
Bài hát về cây ngải cứu (bút ký, 2000)
Ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007 cho các tập thơ: Đêm Quảng Trị, Lối vào phía Bắc, Trăng sau rằm, Nhặt lá.
Phong cách sáng tác
Phạm Ngọc Cảnh là nhà thơ của hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Thơ ông phản ánh sâu sắc tình yêu quê hương, đất nước và con người, dù trải qua nhiều biến cố cuộc đời. Ngôn từ trong thơ mộc mạc, giản dị, giàu chất trữ tình và thuần Việt, thể hiện đậm nét văn hóa dân gian. Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, nhẹ nhàng khiến người đọc day dứt và cảm nhận được sự trưởng thành, đĩnh đạc, tự tin của chủ thể trữ tình, khác biệt với những trang thơ lãng mạn thông thường. Bài thơ Lý ngựa ô ở hai vùng đất là minh chứng tiêu biểu cho phong cách đặc trưng của ông.
🧠 Phong Cách Sáng Tác Các Tác Giả Văn Học
⬇️ 100 Phong Cách Sáng Tác Nhà Văn
⬇️ 105 Phong Cách Sáng Tác Các Nhà Thơ
⬇️ 108 Phong Cách Sáng Tác CácNhà Viết Kịch
⬇️ 90 Phong Cách Sáng Tác Nhà Lý Luận Văn Học
⬇️ 110 Phong Cách Sáng Tác Nhà Phê Bình Văn Học
