Nguyễn Gia Thiều là một nhà thơ trong những nhà thơ lỗi lạc nhất của dân tộc. Thơ ông là sự kết đọng đẹp nhất của một tâm hồn thẩm mỹ. Bài viết dưới đây Khái quát về Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác và nhận định về Nhà thơ Nguyễn Gia Thiều
Tiểu sử
– Nguyễn Gia Thiều (22/3/1741 – 22/6/1798), tước Ôn Như hầu, tên chữ là Quang Thanh, hiệu Hi Tôn, bút danh Đạm Trai, là một danh sĩ nổi bật sống vào cuối thời Lê Trung Hưng. Ông sinh ra trong một gia đình đại quý tộc tại làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
– Gia đình ông có truyền thống làm quan và quân sự:
-
Cụ nội là bà Cảo Phu nhân – em họ Thái phi Trương Thị Ngọc Chử, vú nuôi của chúa Trịnh Cương.
-
Ông nội là Nguyễn Gia Châu – một võ quan thông thạo kinh sử, được phong tước Siêu Quận công.
-
Cha ông là Nguyễn Gia Ngô – võ quan cao cấp, giữ tước Quận công; các bác và chú của ông cũng giữ chức Quận công.
-
Mẹ là quận chúa Quỳnh Liên, con gái An Đô vương Trịnh Cương.
-
Nguyễn Gia Thiều gọi chúa Trịnh Doanh là cậu ruột và là con cô con cậu với chúa Trịnh Sâm.
– Nhờ xuất thân quý tộc, ông được đưa vào học trong phủ chúa từ năm sáu tuổi. Ông nổi tiếng là người thông minh, học rộng, văn võ song toàn, đồng thời am hiểu nhiều lĩnh vực nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, kiến trúc và trang trí.
– Ông có nhiều con, trong đó bốn người con đầu đều nổi tiếng văn tài. Cả bốn cha con cùng sáng tác và cho ra đời tập thơ Tứ trai thi tập, bao gồm các bút hiệu: Tâm Trai (Nguyễn Gia Thiều), Kỷ Trai (Nguyễn Gia Cơ), Hòa Trai (Nguyễn Gia Diễm), Thanh Trai (Nguyễn Gia Chu).

Sự nghiệp
– Nguyễn Gia Thiều sớm được chúa Trịnh trọng dụng. Năm 1759, khi mới 18 tuổi, ông được bổ làm Hiệu úy, quản Trung mã tả đội, sau thăng Chỉ huy Thiêm sự. Năm 1782, ông được cử làm Tổng binh trấn thủ xứ Hưng Hóa, vì có công trạng nên được phong tước Ôn Như hầu. Các em trai ông cũng được phong tước như Du Lãnh hầu và Thưởng Vũ bá.
– Tuy nhiên, trong thời gian làm quan, Nguyễn Gia Thiều thường lui về tư dinh gần hồ Tây để sống cuộc đời nhàn tản, say mê thơ ca, triết học, nghệ thuật và thú thưởng ngoạn hơn là lo việc chính sự.
– Năm 1786, khi quân Tây Sơn ra Bắc diệt chúa Trịnh, ông lánh lên vùng núi Hưng Hóa.
– Đến năm 1789, sau khi Nguyễn Huệ đánh bại quân Thanh, ông được vua Quang Trung mời ra làm quan nhưng cáo bệnh từ chối, ẩn cư tại quê nhà cho đến khi qua đời vào ngày 22 tháng 6 năm 1798, thọ 57 tuổi.
Tác phẩm
– Về âm nhạc: sở trường các bài ca, bài tán, ông là tác giả các bản Sơn trung âm và Sở từ điệu.
– Về hội họa: ông có bức tranh lớn Tống sơn đồ, dâng vua xem được khen thưởng.
– Về kiến trúc, trang trí: ông là người được chúa Trịnh giao cho trông nom việc trang hoàn phủ chúa và điều khiển xây tháp chùa Thiên Tích
– Thơ:
+ Thơ chữ Hán: Ôn Như thi tập – khoảng một nghìn bài, nhưng đã thất truyền.
+ Thơ chữ Nôm: Cung oán ngâm khúc, Tây hồ thi tập và Tứ trai thi tập
+ Trong Tam ký của danh sĩ Hà thành Lý Văn Phức một số bài thơ Nôm khác như Cảnh vườn rau, Bảo Cam ra hái hoa, Khối tình.
Phong cách sáng tác
– Nguyễn Gia Thiều là một tài năng toàn diện của cuối thời Lê – Trịnh, không chỉ giỏi văn chương mà còn am hiểu sâu sắc các lĩnh vực như hội họa, âm nhạc và thơ ca. Thơ Nôm của ông được trau chuốt kỹ lưỡng, mang vẻ đẹp tinh tế, gợi cảm nhưng cũng cầu kỳ, giàu tính mỹ thuật. Phong cách thơ ông có khuynh hướng hoa mỹ, thể hiện sự dụng công trong ngôn từ và hình ảnh nghệ thuật.
– Một đặc điểm nổi bật trong phong cách sáng tác của Nguyễn Gia Thiều là khả năng khái quát những khái niệm trừu tượng thành các hình ảnh cụ thể, sinh động và phong phú. Ông thường kết hợp linh hoạt vốn từ Hán – Việt, làm giàu thêm chất văn chương và sắc thái biểu cảm trong thơ, đồng thời đem hơi thở hiện thực vào những biểu tượng nghệ thuật giàu tính triết lý.
– Tác phẩm của ông, đặc biệt là Cung oán ngâm khúc, thể hiện cái nhìn sâu sắc và chiêm nghiệm trước thời cuộc rối ren, bế tắc. Thơ ông không chỉ là tiếng nói cá nhân đầy trăn trở mà còn là lời phản ánh thân phận con người trí thức trong xã hội đương thời. Nguyễn Gia Thiều gửi gắm toàn bộ tâm hồn, cảm xúc và suy tư của mình vào trang thơ, để từ đó chất chứa nỗi niềm riêng tư và đồng thời phát hiện ra những quy luật nhân sinh sâu sắc, những góc khuất của hiện thực mà không phải ai cũng nhận ra được.
Nhận định, đánh giá
– Hậu nho Lý Văn Phức đã ngợi ca Cung oán ngâm khúc: “hiên đoàn, bách luyện, ngữ ngữ kinh nhân” (Trăm ngàn lần tôi rèn, từng lời, từng lời nghe đến ghê người)
Tài liệu tham khảo
2. Đề kiểm tra 15 phút tham khảo
3. Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều
