Nguyễn Công Trứ là một nhà thơ lỗi lạc của dân tộc Việt Nam. Bài viết dưới đây khái quát về Tiểu sử cuộc đời, phong cách sáng tác và nhận định đánh giá về nhà thơ Nguyễn Công Trứ

Tiểu sử cuộc đời
– Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) là một danh nhân nổi bật của Đại Nam thời Nguyễn, được biết đến như một nhà chính trị, nhà quân sự và nhà thơ kiệt xuất. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, ham học và có tính cách phóng khoáng, tài hoa.
– Con đường công danh của Nguyễn Công Trứ trải qua biết bao thăng trầm. Ông từng trải qua nhiều năm long đong, mãi đến năm 1819, khi đã ngoài 40 tuổi, mới thi đỗ Giải nguyên (đậu đầu kỳ thi Hương) và bắt đầu làm quan dưới triều Nguyễn. Suốt cuộc đời làm quan, ông phục vụ qua các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, được thăng thưởng nhiều lần vì công trạng nhưng cũng không ít lần bị giáng chức, thậm chí có lúc bị kết án trảm giam hậu, rồi lại được tha.
– Trong bối cảnh xã hội dưới thời Gia Long, Minh Mạng nhiều biến động, khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, Nguyễn Công Trứ tuy là quan văn nhưng nhiều lần được giao trọng trách cầm quân và lập chiến công:
-
Năm 1827, ông dẹp cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành.
-
Năm 1833, ông dẹp cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân.
-
Năm 1835, ông đánh tan giặc Khánh.
Ngoài ra, ông còn góp công lớn trong cuộc chiến tranh Việt – Xiêm (1841 – 1845), bảo vệ bờ cõi đất nước.
– Ở tuổi xế chiều, nhìn lại cả một đời tung hoành trên chính trường và thi đàn, Nguyễn Công Trứ đã để lại cho hậu thế không chỉ những chiến công hiển hách mà còn cả một phong thái sống “ngất ngưởng”, ngạo nghễ, siêu thoát, vượt ngoài vòng danh lợi. Trong câu đối tự thuật cuối đời, ông tự nhận mình từng “quan trong năm bảy thứ, quan ngoài tám chín phen”, từng nếm đủ mùi vinh hoa, binh quyền, thế nhưng vẫn coi gió mát trăng trong là tri kỷ, lấy thú thanh nhàn làm lẽ hơn đời.
– Nguyễn Công Trứ mất năm 1859, khép lại một cuộc đời lắm thăng trầm nhưng rực rỡ, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử văn hóa, quân sự và thi ca Việt Nam.
Sáng tác của Nguyễn Công Trứ
– Nguyễn Công Trứ để lại một sự nghiệp văn chương phong phú, hầu hết được sáng tác bằng chữ Nôm, gồm thơ, ca trù, phú. Ông cũng là một trong những tác giả đưa hát nói (một hình thức gần gũi ca trù) lên tầm nghệ thuật tinh vi.
– Thơ văn Nguyễn Công Trứ phản ánh một nội dung phong phú, phức tạp, kết tinh tâm thế và ý thức của cả một thế hệ nhà nho sống trong thời kỳ xã hội nhiều biến động. Tuy vậy, có thể khái quát sáng tác của ông tập trung chủ yếu vào ba mảng đề tài lớn:
-
Chí nam nhi lập công danh:
Thể hiện hoài bão làm trai trong trời đất phải để lại sự nghiệp, công danh hiển hách, lập thân để báo đáp quốc gia, xã hội. Đây là tư tưởng xuyên suốt thơ ông, tiêu biểu trong những bài như Bài ca ngất ngưởng, Hành lạc… -
Nỗi niềm với cái nghèo, thế thái nhân tình:
Ông từng lận đận công danh nên hiểu thấu sự bạc bẽo, đổi thay của lòng người, qua đó bày tỏ thái độ ngao ngán trước thói đời, trước những giả trá của vòng danh lợi. -
Triết lý hưởng lạc:
Đến cuối đời, khi từng trải đủ bể dâu, Nguyễn Công Trứ hướng đến lối sống khoáng đạt, đề cao thú vui thanh cao, tìm sự an nhiên nơi thiên nhiên, tiệc rượu, tiếng đàn, như một cách vượt thoát khỏi vòng cương tỏa danh lợi.
Tác phẩm tiêu biểu
– Cuộc đời của Nguyễn Công Trứ có rất nhiều bài thơ hay và mang lại cho người đọc nhiều cảm xúc khó tả. Có lẽ vì cuộc đời có nhiều thăng trầm chính vì thế ông cho ra đời nhiều bài thơ, bài kịch hay đến như vậy/
– Tác phẩm tiêu biểu: Dại khôn, Cảnh xa nhà, Cảm tác lúc về già, Bài ca ngất ngưỡng, Tương tư, Tự tình, Vui cảnh nghèo, Yêu hoa, Vô cầu, Mượn rượu làm vui, Lời tiểu thiếp tự tình, Nợ công danh, Nợ phong lưu, Quen thú vẫy vùng, Thành sự do thiên, Thú rượu thơ, Thú say sưa, Tuổi già cưới vợ hầu, Trường An hoài cổ, Vịnh Thúy Kiều, Vịnh mùa thu, Vịnh mùa hạ,…
Nhận định về Nguyễn Công Trứ
– “Tôi xin bái phục, nghìn lần bái phục cụ Nguyễn Công Trứ. Tôi giờ mới thật hiểu cụ. Thật là một người có một không hai. Tài đến rứa là cùng, khí phách đến rứa là cùng, đức độ làm quan đến rứa là cùng mà chơi nhởi cũng hay đến rứa là cùng…”.(Nhà thơ Tố Hữu)
– “Nguyễn Công Trứ là người chú trọng thực tiễn: Khi có loạn thì đánh đông dẹp bắc, trừ loạn đảng, dẹp nhiễu nhương; lúc bình trị thì đặt phương sách phát triển kinh tế, mở mang đất đai, thực hiện giáo hóa, phát triển văn trị. Quản việc dân thì mẫn cán, cần kiệm, biết dùng đúng người đúng việc…” (tham luận của GS.TS Trần Ngọc Vượng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội).
– Công Trứ là người trác lạc, có tài khí, có tài làm văn, càng giỏi về quốc âm, làm ra thi ca rất nhiều, khí hào mại, phổ đầy trong âm luật; đến nay hãy còn truyền tụng. Trứ làm quan thường bị bãi cách rồi được cất nhắc lên ngay; tỏ sức ở chiến trường nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn. Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thủy, trải sơn 10 năm có cái hứng thú phớt thoảng ra ngoài sự vật. Đến người ta, phần nhiều tưởng đến phong độ khí thái của ông. Sau khi Trứ mất, các huyện ấp do ông lập ra đều dựng đền để thờ. – Đại Nam liệt truyện
– Ở đời có ba điều bất hủ: Một là lập công. Hai là lập đức. Ba là lập ngôn… Trong ba điều ấy, có được một vẫn đã khó, mà gồm được cả ba chưa dễ mấy ai. Thường xét nước ta, có một bậc vĩ nhân. Nói về công thời rất lớn. Nói về đức thời đức rất dày. Mà nói về ngôn thời ngôn luận văn chương rất có giá trị. Nước nhà có được một bậc vĩ nhân như vậy, quốc dân ta há không nên tôn sùng, không nên tượng đồng bia đá hay sao? – Giáo sư Lê Thước
– Tiếng nói chí nam nhi là chủ đến lớn nhất tập trung xuất hiện trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ thuở hàn vi và thời làm quan đắc chí. – Nguyễn Đăng Na
– “Nguyễn Công Trứ là con người của hôm trước và con người của hôm sau xuất hiện trong giai đoạn đặc trưng nhất của lịch sử dân tộc. Ông là dấu nối giữa hai thời kỳ phân liệt tan rã (bởi nội chiến) và hàn gắn phục hưng (bởi nhu cầu thống nhất) trở thành người tiên phong dẹp loạn, tiên phong khai hoang lập ấp, tiên phong đề xuất tổ chức lại quân đội và xây dựng pháo đài phòng thủ. Từ bối cảnh đó, một con người văn võ song toàn như ông, mặc nhiên phải đứng về phía ngày mai của một quốc gia thịnh vượng, hùng cường. Bởi thế, ở bất kì lĩnh vực nào, nếu ông có mặt, dù gián tiếp vẫn động lại những dấu ấn mang tầm trí tuệ, mang tính thời đại điển hình.” – Mai Khắc Hưng
