Nhà thơ Lý Bạch (Tiểu sử, sự nghiệp và phong cách sáng tác)

Nhắc đến thơ ca thời Đường, chúng ta không thể không nhắc đến tác giả Lý Bạch, một nhà thơ theo chủ nghĩa lãng mạn lớn nhất Trung Quốc. Bài viết dưới đây khái quát về Tiểu sử, sự nghiệp và phong cách sáng tác của nhà thơ Lý Bạch.

Nhà thơ Lý Bạch (Tiểu sử, sự nghiệp và phong cách sáng tác)

Tiểu sử

  • Tự: Thái Bạch. Hiệu: Thanh Liên cư sĩ.

  • Được hậu thế tôn là Thi Tiên, Thi Hiệp; Hạ Tri Chương gọi ông là Thiên Thượng Trích Tiên.

  • Quê quán: Gốc ở Lũng Tây (nay thuộc Cam Túc). Năm 5 tuổi, gia đình chuyển đến làng Thanh Liên, huyện Xương Long, Miên Châu (Tứ Xuyên).

  • Gia đình:

    • Hậu duệ của tướng quân Lý Quảng (nhà Hán), cháu chín đời của Tây Lương Vũ Chiêu vương Lý Cảo.

    • Có sách chép ông thuộc tông thất nhà Đường, hậu duệ của Ẩn Thái tử Lý Kiến Thành.

    • Ông có hai người vợ chính (Hứa thị phu nhân và cháu gái tể tướng Tông Sở Khách), hai người vợ khác (một họ Lưu, một không rõ tên).

    • Có hai con với người vợ đầu.

  • Học vấn:

    • Thuở nhỏ được mẹ dạy chữ Tây Vực, cha dạy Kinh Thi, Kinh Thư.

    • 10 tuổi đã thông thạo kinh điển, thích làm thơ.

    • Sau khi về Chương Minh (Tứ Xuyên), ông say mê học kiếm, sớm bộc lộ tài múa kiếm và làm thơ.

Sự nghiệp 

  • 15 tuổi, Lý Bạch đã nổi tiếng với bài phú ngạo “Tư Mã Tương Như” gửi Hàn Kinh Châu.

  • 16 tuổi, danh tiếng vang khắp Tứ Xuyên, nhưng ông lại rời bỏ tất cả lên núi Đái Thiên Sơn học đạo, bắt đầu đời sống ẩn sĩ.

  • Sau 2 năm ẩn cư, ông xuống núi, làm hiệp sĩ, du ngoạn khắp Hà Bắc, Giang Tây, Trường An.

  • 20 tuổi, Lý Bạch đi khắp đất Thục, trở về Tứ Xuyên chuẩn bị hành trang, rồi đến Ích Châu làm dưới quyền thứ sử Tô Dĩnh. Tô Dĩnh ca ngợi ông là thiên tài, sánh ngang Tư Mã Tương Như.

  • 30 tuổi, danh tiếng đã lan tới triều đình. Ông được mời làm quan nhưng từ chối.

  • Năm 742 (Thiên Bảo nguyên niên), ông đến Cối Kê, rồi về Trường An. Ở đây kết bạn với Hạ Tri Chương, được tiến cử lên Đường Minh Hoàng. Vua quý trọng tài năng, cho ông vào điện Kim Loan giữ việc thảo thư, phong làm Hàn Lâm. Ông được Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi yêu thích. Cùng nhóm bạn như Hạ Tri Chương, Thôi Tông Chi… lập ra hội “Tửu trung bát tiên”.

  • Từ năm 745, do bị gièm pha, Lý Bạch rời triều, tiếp tục đời ngao du, kết giao nhiều thi nhân lớn như Đỗ Phủ, Sầm Tham, Mạnh Hạo Nhiên, Cao Thích…

  • Năm 755, khi đang ở Bình Phong Điệp, ông được Vĩnh Vương Lân mời về. Sau khi Vĩnh Vương làm phản, Lý Bạch bị liên lụy, chạy trốn không thoát. Nhờ Tuyên Uý Thôi Chi Hoán và ngự sử Tống Nhược Tư giúp đỡ, ông thoát chết.

  • Năm 757, bị bắt lại, may nhờ Vương Chi Hoán cứu nên thoát án tử, chỉ bị lưu đày.

  • Năm 758, trên đường đi đày qua Dạ Lang, Động Đình, Tam Giáp, ông được ân xá, trở lại tự do, tiếp tục ngao du, nhưng tuổi già sức yếu, về Đang Đồ ở nhờ anh họ Lý Dương Băng.

  • Năm 762, Đường Đại Tông mời ông ra giúp nước nhưng khi sứ giả tới nơi thì Lý Bạch đã mất.

Phong cách thơ và nghệ thuật

– Thơ Lý Bạch phong phú về đề tài, trải rộng trên đủ các lĩnh vực của đời sống. Ông viết về tình bạn, về nỗi khổ đau của người dân, thể hiện sự bất bình với những thực tại tầm thường, đồng thời cũng vịnh cảnh thiên nhiên, thưởng hoa, bày tỏ nỗi cay đắng khi có tài mà không được trọng dụng. Dù viết về đề tài nào, ông cũng để lại cho hậu thế những thi phẩm kiệt xuất, mang giá trị nghệ thuật và nhân văn sâu sắc.

– Phong cách thơ Lý Bạch tiêu biểu cho chủ nghĩa lãng mạn trong thi ca Trung Quốc. Thơ ông hào phóng, bay bổng, tự nhiên mà vẫn tinh tế, tạo nên sự kết hợp nhuần nhị giữa cái cao cả và cái đẹp. Đó chính là nét đặc trưng nổi bật trong hồn thơ của Lý Bạch. Từ niềm yêu mến thiên nhiên, quê hương sông núi, ông đã khắc họa nên những bức tranh thơ lung linh, giàu xúc cảm, đồng thời gửi gắm niềm tha thiết yêu nước, yêu đời, yêu con người. Chính vì vậy, ngay cả khi ca ngợi vẻ đẹp người phụ nữ, một vẻ đẹp đầy nữ tính, Lý Bạch vẫn khơi dậy được những cảm hứng thẩm mỹ mạnh mẽ, chan chứa tinh thần nhân bản.

– Thơ ông cũng thấm đẫm tinh thần trượng nghĩa, phản ánh khát vọng cống hiến cho đất nước, cho nhân dân. Tiếc thay, lý tưởng lớn ấy không thành, để lại trong hồn thơ ông những day dứt, khắc khoải. Tuy vậy, chính bi kịch “tài mà không gặp thời” ấy lại càng làm sáng lên cốt cách hào hiệp, phóng khoáng của nhà thơ. Bởi thế, thơ ông có khi lộng lẫy, khoáng đạt như men rượu, có khi lại đượm buồn, khắc khoải mà thăm thẳm sâu.

– Hồn thơ Lý Bạch luôn hướng về cái đẹp, bay lên khỏi hiện thực ngột ngạt để tìm đến thế giới lý tưởng, nơi tinh thần tự do được giải phóng. Đó cũng là lý do ông được tôn vinh là “Thi Tiên” – bậc tiên trên thi đàn, mang đến cho thơ ca một thế giới mộng mơ, lãng mạn, đầy ánh trăng, sông núi và những cuộc say hoài cổ.

– So với Đỗ Phủ – nhà thơ hiện thực kiệt xuất cùng thời, thơ Lý Bạch nổi bật với chủ nghĩa lãng mạn, thường không ràng buộc bởi lễ giáo hay khuôn phép. Ông đã làm giàu cho thi ca Đường đại nói riêng và văn học Trung Quốc nói chung bằng những áng thơ bất hủ, làm rung động lòng người qua bao thế kỷ.

– Nhờ vậy, Lý Bạch xứng đáng là một trong những cây bút tài hoa nhất trong lịch sử văn chương Trung Hoa, để lại một di sản thi ca vô giá mà đến nay vẫn còn được ngợi ca, tôn kính.

Tác phẩm

– Tĩnh dạ tứ

– Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng

– Thương tiến tửu

– Vọng Lư sơn bộc bố

– Hiệp khách hành

– Anh Vũ châu

– Bá Lăng hành tống biệt

– Ba nữ từ

5/5 - (1 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *