Nhà thơ Huy Cận (Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác và nhận định đánh giá)

Giới thiệu về Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác và một số nhận định về nhà thơ Huy Cận.

Nhà thơ Huy Cận (Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác và nhận định đánh giá)

Tiểu sử

– Huy Cận (1919–2005), tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở xã Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu, xuất sắc nhất của phong trào Thơ Mới.

– Không chỉ là một thi sĩ tài hoa, Huy Cận còn là một chính khách có uy tín, từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời giữ vai trò lãnh đạo chủ chốt trong Đảng Dân chủ Việt Nam. Trong suốt cuộc đời hoạt động chính trị và sáng tác, Huy Cận đã để lại dấu ấn sâu đậm cả trên phương diện văn chương lẫn chính trường.

Sự nghiệp

– Thuở nhỏ, Huy Cận học ở quê nhà, sau đó tiếp tục học trung học tại Huế và đỗ tú tài Pháp. Sau này, ông ra Hà Nội theo học tại Trường Cao đẳng Canh nông.

– Từ năm 1942, ông tích cực tham gia phong trào sinh viên yêu nước và hoạt động trong Mặt trận Việt Minh. Tháng 8 năm 1945, Huy Cận dự Quốc dân đại hội tại Tân Trào và được bầu vào Ủy ban Giải phóng dân tộc, tức Chính phủ Cách mạng lâm thời sau đó.

– Trước Cách mạng, ông từng cộng tác với nhóm Tự Lực văn đoàn – một tổ chức có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn học đương thời. Sau Cách mạng tháng Tám, Huy Cận tiếp tục đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền mới, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa và văn nghệ.

– Ông từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hóa, sau đó là Bộ trưởng đặc trách Văn hóa – Thông tin trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Từ năm 1984, ông giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

– Ngoài vai trò quản lý văn hóa, Huy Cận còn là đại biểu Quốc hội các khóa I, II và VII.  Năm 1996, Huy Cận đã được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

– Tháng 6 năm 2001, ông được bầu làm Viện trưởng Viện Hàn lâm Thơ Thế giới – một vinh dự cho văn học Việt Nam trên trường quốc tế.

– Ngày 23/02/2005, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng.

Tác phẩm

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà thơ Huy Cận đã cho ra đời nhiều tác phẩm nổi tiếng như:

  • Tập thơ “Lửa thiêng” (1940)
  • “Kinh cầu tự” (1942)
  • “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958),
  • “Đất nở hoa” (1960)
  • “Bài thơ cuộc đời” (1963)
  • “Chiến trường gần, Chiến trường xa” (1973)
  • “Hạt lại gieo” (1984)
  • “Ta về với biển” (1997)
  • “Cha ông nghìn thuở” (2002)…

Phong cách sáng tác

– Huy Cận là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ Mới, đồng thời cũng là một nhà thơ có hành trình sáng tác dài lâu và đặc biệt gắn bó với những bước chuyển của lịch sử dân tộc. Trong suốt cuộc đời cầm bút, thơ ông luôn phản ánh sâu sắc tâm trạng con người trước thời cuộc, đồng thời mang dấu ấn phong cách riêng, hàm súc, triết lý và đầy rung cảm. Mỗi giai đoạn sáng tác của Huy Cận đều mang những sắc thái khác biệt, thể hiện sự biến đổi trong cảm xúc, tư tưởng cũng như ý thức công dân của người nghệ sĩ trước cuộc sống.

– Trước Cách mạng tháng Tám 1945: Thơ ca của nỗi buồn thân phận

+ Trước Cách mạng, thơ Huy Cận nổi bật với vẻ đẹp trầm lắng, giàu chất suy tư và buồn vương thân phận. Chịu ảnh hưởng rõ nét từ văn học Pháp và thi pháp thơ Đường, ông thường tìm về những đề tài mang nỗi ám ảnh, tâm trạng cô đơn, lạc lõng, khắc khoải giữa cuộc đời. Tập Lửa thiêng (1940) là minh chứng tiêu biểu cho cảm thức u buồn ấy, nơi những vần thơ như “Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật” hay “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” trở thành tiếng lòng chung của một thế hệ trí thức trẻ chưa tìm được lối thoát giữa thời đại đầy biến động.

– Sau Cách mạng tháng Tám 1945: Thơ ca của sự sống và niềm tin

+ Từ sau Cách mạng tháng Tám, phong cách thơ của Huy Cận có sự chuyển biến mạnh mẽ, mang hơi thở mới của thời đại. Không còn là nỗi buồn cô quạnh, thơ ông giờ đây sáng rõ niềm tin, lạc quan và hòa mình vào nhịp sống của nhân dân, của công cuộc kiến thiết đất nước. Các tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng (1958) và Đất nở hoa (1960) chính là dấu mốc cho giai đoạn chuyển mình này, khi thơ ông rạng rỡ một tinh thần yêu đời, yêu người và tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

+ Thơ Huy Cận sau 1945 tràn ngập hình ảnh lao động, thiên nhiên và con người Việt Nam trong hành trình dựng xây đất nước. Những vần thơ không chỉ mang âm hưởng sử thi mà còn truyền đi thông điệp sống tích cực, thể hiện khát vọng thống nhất, hòa bình và no ấm. Chính sự thay đổi của thời đại từ tối tăm đến ánh sáng, từ mất mát đến hồi sinh đã trở thành nguồn cảm hứng nuôi dưỡng tâm hồn nhà thơ, khiến thơ ông như được hồi sinh cùng đất nước.

+ Một minh chứng rõ nét cho sự thay đổi ấy là bài Đoàn thuyền đánh cá. Nếu như trước kia, con thuyền trong thơ Huy Cận cô đơn, lênh đênh giữa “tràng giang” mênh mông thì nay, con thuyền ấy đã căng buồm no gió, vượt sóng ra khơi trong khí thế hào hùng của lao động tập thể. Thiên nhiên hiện lên sống động, vũ trụ chan hòa ánh sáng, con người trở thành chủ thể kiến tạo cuộc sống – đó là thơ của sự sống, niềm vui và khát vọng vươn lên.

– Phong cách thơ của ông gắn liền với dòng chảy thời đại. Sự thay đổi trong phong cách sáng tác của Huy Cận không chỉ là kết quả của quá trình tự làm mới nội tâm nghệ sĩ mà còn là sự đáp lời trước tiếng gọi của thời đại. Trước cách mạng, nỗi buồn trong thơ ông xuất phát từ sự bế tắc của một cá nhân giữa thời cuộc u ám. Sau cách mạng, với tinh thần công dân và niềm tin vào lý tưởng cộng sản, ông chọn cách phản ánh hiện thực bằng ngôn ngữ lạc quan, bằng nhịp điệu của công trường, của mặt trời lên trên biển cả. Dù ở giai đoạn nào, thơ ông cũng mang đậm dấu ấn cá nhân, là tiếng nói chân thành của một tâm hồn luôn thao thức trước vận mệnh con người và dân tộc.

Nhận định, bình luận

– Tràng giang là bài thơ ca hát non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu Giang sơn Tổ quốc. – Xuân Diệu

– Huy Cận như không ở trong thời gian mà chỉ ở trong không gian. – Xuân Diệu

– Cái buồn “Lửa Thiêng” là cái buồn tỏa ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh. – Hoài Thanh

– Bài thơ hầu như trở thành cổ điển, của một nhà “Thơ mới”. Vào một cách dõng dạc, đàng hoàng, vì đây là “đại giang”, là sông lớn, ví dụ như sông Hồng; là tràng giang: rộng bao gồm cả trường giang: dài; sầu trăm ngả chứ không phải là ít ngả, vì là sông lớn… Hơi thở cổ điển là đúng…duy câu thứ tư thì là hiện đại; thơ truyền thống của cha ông ta không đưa cái nét hiện thực, thực tế, nôm na, chân thật đến sống sít, là củi một cành khô trôi đi trên sông. – Xuân Diệu

5/5 - (1 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *