Hằng Phương là một trong những nữ sĩ đầu tiên của nền văn học Việt Nam hiện đại, Hằng Phương đã góp vào gia tài văn chương Việt những thi phẩm sâu sắc. Bài viết dưới đây khái quát về Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác của Nhà thơ Hằng Phương
Tiểu sử
-
Tên thật: Lê Hằng Phương.
-
Sinh năm 1908 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
-
Gia đình trí thức, cha là Lê Dư (Sở Cuồng) – nhà văn, nhà nghiên cứu Hán Nôm, em rể của nhà văn hóa Phan Khôi; mẹ là Phan Thị Dệm, con gái Phó bảng Phan Trần – một sĩ phu yêu nước.
-
Năm 1925, bà kết hôn với Vũ Ngọc Phan, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học; họ có mười người con, trong đó có những nhân vật nổi tiếng như Vũ Giáng Hương (họa sĩ), Vũ Tuyên Hoàng (giáo sư, viện sĩ).

Sự nghiệp
-
Hằng Phương là một trong những nữ sĩ tiên phong của phong trào Thơ mới Việt Nam (1932 – 1945).
-
Bà xuất hiện rất sớm trên thi đàn, bài thơ đầu tiên là Nhớ con nhỏ Bội Trinh đăng trên báo Phụ nữ tân văn năm 1929.
-
Trước 1945, thơ của bà đăng trên nhiều báo như Đàn bà, Tri Tân, Ngày nay, Hà Nội tân văn, Trung Bắc tân văn, Phụ nữ tân văn.
-
Năm 1943, cùng Vân Đài, Mộng Tuyết, Anh Thơ, bà ra mắt tập thơ chung Hương Xuân, được xem là tập thơ nữ bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam.
-
Tham gia tích cực các phong trào cách mạng và hoạt động xã hội: Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936–1939), Hội Truyền bá Quốc ngữ, Hội Phụ nữ cứu quốc, kháng chiến chống Pháp và Mỹ.
-
Là một trong những hội viên đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam khi thành lập năm 1957.
-
Trong chiến tranh, bà vừa sáng tác, vừa tham gia các công tác xã hội, đi đến các khu vực chiến đấu để hỗ trợ và động viên đồng bào.
Tác phẩm tiêu biểu
-
Tập thơ: Hương Xuân (1943), Một mùa hoa (1960), Mùa gặt (1961), Chim én bay xa (1962), Hương đất nước (1974).
-
Bài thơ nổi tiếng: Lòng quê, tặng chồng Vũ Ngọc Phan, thể hiện tình yêu thủy chung, son sắt.
-
Các bài thơ của bà còn đăng rải rác trên nhiều báo và tạp chí trong nước, một số được dịch ra nước ngoài.
Phong cách sáng tác
-
Thơ Hằng Phương êm dịu, ngọt ngào, nhẹ nhàng, trong sáng, giàu tình cảm gia đình, tình quê và tình yêu đất nước.
-
Giọng thơ trong trẻo, tinh tế, vừa đậm chất nữ tính, vừa giàu nhân văn và cảm xúc.
-
Bà biết cách mượn hình ảnh thiên nhiên, chim muông, quê hương để gửi gắm tâm tư, làm nên nét riêng trong phong trào Thơ mới.
-
Tác phẩm thể hiện sự dấn thân: vừa là nhà thơ, vừa là người tham gia hoạt động xã hội, cách mạng, gắn bó mật thiết với vận mệnh dân tộc.
Nhận xét
Trong phần tổng luận Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh – Hoài Chân xác định đặc tính dân tộc trong thơ Hằng Phương: “Ngoài Lưu Trọng Lư, Phan Văn Dật, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thư, Vũ Hoàng Chương, trong dòng Việt cơ hồ không còn ai. Hoặc cũng có thể tìm thấy ở đây: Đông Hồ, Nguyễn Xuân Huy, Thúc Tề, Nguyễn Vỹ, T.T.Kh., Hằng Phương, Mộng Huyền, Trần Huyền Trân. Nhưng không lấy gì làm rõ lắm”…
Đến phần giới thiệu tác giả, tác phẩm, hai ông Hoài Thanh – Hoài Chân phân tích, bình luận ngắn gọn, chừng mực: “Thơ Hằng Phương cùng một giọng êm dịu, ngọt ngào như thơ Vân Đài. Nhưng ít dấu tích thơ Đường và thành thực hơn. Như đoạn cuối trong bài Lòng quê trích theo đây, lời thơ thực yểu điệu, dễ thương. Hằng Phương mượn lời chim để nói nỗi lòng mình. Nhưng thực ta không còn biết đây là lời người hay lời chim. Bởi mối tình ở đây nhẹ nhàng quá, trong trẻo quá. Người thơ tưởng chừng đã biến thành chim…
🧠 Phong Cách Sáng Tác Các Tác Giả Văn Học
⬇️ 100 Phong Cách Sáng Tác Nhà Văn
⬇️ 105 Phong Cách Sáng Tác Các Nhà Thơ
⬇️ 108 Phong Cách Sáng Tác CácNhà Viết Kịch
⬇️ 90 Phong Cách Sáng Tác Nhà Lý Luận Văn Học
⬇️ 110 Phong Cách Sáng Tác Nhà Phê Bình Văn Học
