Dương Khuê là một nhà thơ tài hoa, không chỉ nổi trội trong mảng thơ mà còn thu hút người thích cái tài của ông trong mảng ca trù. Bài viết dưới đây Khái quát về Tiểu sử, sự nghiệp và phong cách sáng tác của Nhà thơ Dương Khuê
Tiểu sử
– Dương Khuê (1839 – 1902), tự Giới Nhu, hiệu Vân Trì, là một nhà thơ, nhà Nho và quan lại nổi tiếng dưới triều Nguyễn.
– Ông sinh ra tại làng Vân Đình, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Nội (nay thuộc thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội), trong một gia đình Nho học có truyền thống hiếu học.
– Cha ông là Đô ngự sử Dương Quang, em ruột là danh sĩ Dương Lâm, đều là những người có uy tín trong giới Nho sĩ đương thời.
– Dương Khuê nổi tiếng học giỏi từ nhỏ. Năm 1864, ông đỗ Cử nhân cùng khoa với Nguyễn Khuyến (khi ấy đỗ Giải nguyên). Khoa thi Hội đầu tiên vào kinh ông bị hỏng, nhưng đến khoa Mậu Thìn (1868) dưới triều vua Tự Đức, ông đỗ Tiến sĩ, bước vào hàng ngũ trí thức ưu tú của triều đình.

Sự nghiệp
– Sau khi trượt khoa đầu, Dương Khuê từng được Tùng Thiện Vương mời về dạy học cho con cháu trong phủ, đồng thời ôn luyện chờ khoa sau. Đỗ Tiến sĩ năm 1868, ông bắt đầu con đường quan lộ với chức Tri phủ Bình Giang (Hải Dương), sau được thăng làm Bố chính.
– Trong quá trình làm quan, Dương Khuê nổi tiếng liêm chính và cứng cỏi. Khi dâng sớ can vua Tự Đức không nên nhượng bộ trước sức ép của Pháp, ông bị điều về làm Chánh sứ sơn phòng, phụ trách việc khai hoang ở vùng núi.
– Năm 1873, khi quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất, sau quá trình thương thuyết và Pháp tạm hoàn trả bốn thành cho triều đình, ông được bổ nhiệm làm Án sát Hải Phòng. Đến năm 1878, nhân lễ “ngũ tuần khánh thọ” của vua Tự Đức, ông được cất nhắc làm Đốc học Nam Định. Từ đây, ông lần lượt đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như Bố chính, Tham tá Nha Kinh lược Bắc Kỳ, rồi Tổng đốc Nam Định – Ninh Bình.
– Năm 1897, khi Toàn quyền Paul Doumer bãi bỏ điều 7 của Hòa ước Giáp Thân 1884 và từng bước siết chặt chế độ bảo hộ, Dương Khuê xin cáo quan ở tuổi 58. Triều đình cho ông nghỉ hưu và ban tặng hàm Thượng thư Bộ Binh
Phong cách sáng tác
– Dương Khuê là người văn hay chữ tốt, ông có thể làm thơ chữ Hán, cũng có thế viết những bài ca trù. Với sự tinh luyện về ngôn ngữ và sự hài hòa trong thanh điệu đã giúp các tác phẩm của ông trở nên thanh thoát, uyển chuyển, hóm hỉnh, được nhiều người thưởng thức và yêu thích.
Tác phẩm
– Vân Trì thi thảo (Bản thảo thơ Vân Trì)
– Ca trù:
+ Hồng hồng, Tuyết tuyết
+ Cô đào Cần
+ Ái Cúc
– Các bài thơ vịnh cảnh thiên nhiên:
+ Chơi trăng
+ Động Hương Tích
– Thơ:
+ Ai ơi má đỏ
+ Cái dại
+ Chơi hát ngẫu hứng
+ Cô Chấn
+ Đánh cờ
+ Hà Nội tức cảnh
+ Hà thành trung thu tiết
+ Hạ Yên Đổ Nguyễn tiến sĩ trúng trạng nguyên
+ Hỏi thăm bạn ở Hưng Hoá
+ Hồng Hồng, Tuyết Tuyết Gặp cô đào cũ
+ Hương Sơn phong cảnh Động Hương Tích
+ Lời hẹn
+ May rủi
+ Mừng khánh thành sinh từ bài 1
+ Mừng khánh thành sinh từ bài 2
+ Ngũ thập ngũ tự thọ
+ Nói hớt
+ Nợ phong lưu
+ Tặng cô đầu Cần
+ Tặng cô đầu Cúc
+ Tặng cô đầu Hai Tặng cô đào goá chồng
+ Tặng cô đầu Ngọ Gặp lại người quen • Gặp cô đầu cũ
+ Tặng cô đầu Phẩm Gặp cô đào cũ
+ Thăm chùa gặp tiểu
+ Thăm cô đầu ốm
+ Thừa giáo hoạ nhị giáp tiến sĩ Nguyễn Thượng Hiền thi
+ Tiễn đưa sứ thần
+ Tự vịnh
+ Vợ ghen với cô đầu Oanh
Nhận định, đánh giá
– Nhà phê bình Nguyễn Tường Phượng viết: “Sinh vào lúc Nho học tàn cuộc, quốc gia mất chủ quyền nên cũng như bạn đồng thời là Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê lấy thơ, rượu, ca xướng…để tiêu khiển”
– GS. Phạm Thế Ngũ xếp các tác phẩm của Dương Khuê vào nhóm “Văn hành lạc và trào phúng”.
