Trong suốt sự nghiệp thơ ca của mình, Chính Hữu không sáng tác nhiều về số lượng, nhưng mỗi bài thơ của ông đều có sức nặng, như một dấu ấn, lặng lẽ mà bền bỉ, làm giàu thêm cho kho tàng thi ca dân tộc. Bài viết dưới đây khái quát Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, nhận định về nhà thơ Chính Hữu

Tiểu sử, cuộc đời
– Chính Hữu (1926 – 2007), tên khai sinh là Trần Đình Đắc, sinh tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, nhưng quê gốc ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một nhà thơ lớn của Việt Nam, trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, gắn trọn đời thơ với hình tượng người lính và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
– Chính Hữu thuộc thế hệ đã trải qua nhiều thăng trầm, biến động của lịch sử dân tộc. Trước Cách mạng tháng Tám, ông theo học Cử nhân, chuyên ngành Triết học.
– Năm 1945, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Đến 1946, gia nhập Trung đoàn Thủ đô, chiến đấu chống Pháp ngay tại Hà Nội. Sau khi đơn vị chủ lực phải rút về căn cứ, ông may mắn sống sót và tiếp tục chiến đấu.
– Năm 1947, Chính Hữu được bổ nhiệm làm Chính trị viên một đại đội. Đến 1949, ông trở thành Phó ban Văn nghệ quân đội, mở đầu quãng đời vừa cầm súng vừa làm thơ.
– Từ 1952, ông giữ nhiều trọng trách: Chính trị viên Tiểu đoàn 322, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308, hăng hái tham gia các chiến dịch lớn, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, khi đó ông là Chính trị viên Đại hội.
– Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, năm 1957, ông được giao làm Trưởng phòng Văn nghệ quân đội. Từ 1970 – 1983, giữ cương vị Cục phó Cục Tuyên huấn (thuộc Tổng cục Chính trị), phụ trách mảng văn hóa, văn nghệ. Sau đó, ông tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực văn học với vai trò Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa III, Ủy viên Ban chấp hành khóa IV.
– Với những đóng góp của bản thân cho sự nghiệp thơ ca, năm 2000, tác giả Chính Hữu đã được vinh dự được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học, nghệ thuật vào và Huân chương Độc lập hạng Nhì
Sự nghiệp
– Trước Cách mạng tháng Tám, Chính Hữu từng theo học tú tài chuyên ngành triết học tại Hà Nội.
– Đến năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ Đô, trực tiếp chiến đấu chống quân Pháp trong những ngày đầu bảo vệ Hà Nội. Khi cơ quan đầu não của Việt Minh được đưa ra khỏi vùng chiến sự, đơn vị của ông rút về huyện Đông Anh, may mắn bảo toàn lực lượng.
– Sau đó, ông được gửi đi học bồi dưỡng chính trị và từng đảm nhiệm chức chính trị viên đại hội trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, góp phần làm nên chiến thắng vang dội.
– Chính Hữu bắt đầu sáng tác thơ từ năm 1947, chủ yếu viết về đề tài người lính và chiến tranh, những gì ông đã trải qua, chứng kiến bằng chính cuộc đời binh nghiệp của mình. Tác phẩm nổi bật nhất là tập thơ “Đầu súng trăng treo” (1966), trong đó bài thơ “Đồng chí” đã trở thành một trong những thi phẩm đặc sắc nhất viết về tình đồng đội, tình người trong kháng chiến.
Tác phẩm tiêu biểu
Nhà thơ Chính Hữu có rất nhiều sáng tác hay trong đó có:
– Đầu súng trăng treo (tập thơ, Nhà xuất bản Văn học, 1966) gồm 24 bài.
– Thơ Chính Hữu (tập thơ, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 1977)
– Tuyển tập Chính Hữu (Nhà xuất bản Văn học, 1988)
Phong cách sáng tác
– Thời kỳ trước và trong chiến tranh
+ Ở giai đoạn này, thơ Chính Hữu đậm chất bi tráng, khắc họa hình tượng người lính vệ quốc với tất cả gian khổ, hy sinh nhưng cũng đầy tự hào, kiêu hãnh. Bắt đầu từ bài “Ngày về”, ngòi bút của ông ngày càng trở nên sắc sảo, mang âm hưởng sử thi và chất hiện thực mạnh mẽ.
+ Những bài thơ tiêu biểu như “Giá từng thước đất”, “Đồng chí”, “Thư nhà”, “Ngọn đèn đứng gác” đã tái hiện sống động không khí chiến trường khốc liệt và tinh thần bất khuất của người lính. Đặc biệt, “Giá từng thước đất” lấy bối cảnh 56 ngày đêm oanh liệt ở Điện Biên Phủ, dựng nên bức tranh về những con người “đứng trên cái chết của đồng đội” để gìn giữ từng tấc đất cho Tổ quốc. Trong bóng đêm bom đạn ấy, những người lính vẫn “chụm lại thành hòn núi cao” để làm nên chiến thắng lẫy lừng, vang dội năm châu, đúng như ý nghĩa sâu xa của nhan đề bài thơ.
+ Đỉnh cao phong cách thời kỳ này chính là bài “Đồng chí”, với những câu chữ giản dị, mộc mạc mà chan chứa tình đồng đội giữa thời mưa bom, bão đạn. Chính Hữu đã khắc họa tình đồng chí, đồng đội một cách chân thực, lay động lòng người, đưa “Đồng chí” trở thành một trong những bài thơ hay nhất về người lính trong kháng chiến chống Pháp.
– Thời kỳ sau chiến tranh
+ Sau chiến tranh, thơ Chính Hữu chuyển sang lắng đọng, đầy hoài niệm và chiêm nghiệm về cuộc đời. Ông tìm về những giá trị tinh thần, như chính lời thú nhận chân thành trong bài “Nụ cười”, rằng cuộc sống đôi lúc “đã đôi lần chán nản”, nhưng nhờ vịn vào giá trị tinh thần, ông lại tìm thấy lẽ sống.
+ Khi tuổi đã cao, thơ ông càng giản dị, lặng lẽ mà sâu sắc. “Người bộ hành lặng lẽ”, sáng tác khi Chính Hữu bước vào tuổi 70, tiêu biểu cho phong cách thơ giai đoạn này: ít chữ nhưng nhiều nghĩa, khám phá cái tĩnh lặng sau những tháng năm sôi động.
+ Trong diễn trình thơ ca hiện đại, ít ai lặng lẽ như Chính Hữu. Sự lặng lẽ không chỉ hiện diện trên trang giấy mà còn in hằn trong chính cuộc sống đời thường của ông. Ngay cả lúc sắp chạm ngưỡng cuối cùng của kiếp người, ông vẫn bình thản, ung dung, khiến bao người khâm phục.
Nhận định, bình luận
– Nhà thơ Vũ Quần Phương đã từng nhận xét: “Chính Hữu là nhà thơ quân đội thực thụ cả ở phía tác giả lẫn tác phẩm”. Sắc xanh áo lính đã gắn bó với Chính Hữu trong suốt con đường thơ của ông và nói đến thơ ông là nói đến những trang thơ về người lính.
– Bà Nguyễn Thị Xuân Lịch, vợ nhà thơ cho biết: “Cuốn nhật ký của Chính Hữu đã giúp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng tìm hiểu thực tế chiến đấu của Trung đoàn với những cán bộ có tài như Vũ Yên, Vũ Lăng, Siêu Hải, Hoàng Phương và xây dựng nhân vật Loan trong tác phẩm Sống mãi với Thủ đô. Với việc sáng tác thơ, ông không bao giờ vội vàng công bố mà thường chỉnh sửa rất lâu cho hoàn thiện, khi nào thật vừa ý mới cho đăng”.
– “Chính Hữu là một nhà thơ tài năng, có cảm hứng sáng tác độc đáo mà sâu sắc, chặt chẽ, cẩn thận trong từng con chữ, từng ý, từng vần. Ông sáng tác hơi ít nhưng lại tinh. Trong thơ ông có tư tưởng triết học mà không phải nhà thơ nào cũng có” – Nhà văn Hồ Phương
