Cao Bá Quát là nhà thơ, nhà văn lớn của văn học Việt Nam thế kỉ XIX, nổi tiếng với tài năng xuất chúng, khí phách hiên ngang và tinh thần phản kháng mạnh mẽ trước bất công của xã hội phong kiến. Bài viết dưới đây Khái quát về Nhà thơ Cao Bá Quát
Tiểu sử – Sự nghiệp
– Cao Bá Quát (1809–1855) là một danh sĩ lớn của văn học Việt Nam thế kỉ XIX, nổi tiếng với tài năng, cá tính mạnh mẽ và khí phách bất khuất. Ông quê ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Hà Nội). Cuộc đời Cao Bá Quát gắn liền với con đường làm quan nhiều thăng trầm và tinh thần phản kháng trước bất công của chế độ phong kiến đương thời.
– Năm 1841, Cao Bá Quát được bổ làm quan tại tỉnh Bắc Ninh, sau đó được tiến cử vào triều đình giữ chức Hành tẩu Bộ Lễ. Cùng năm, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Vì thương thí sinh có bài làm hay nhưng phạm trường quy, ông đã cùng Phan Nhạ sửa chữa bài thi. Việc bị phát giác khiến ông bị bắt giam, chịu cảnh lao tù khổ sở suốt gần ba năm tại các ngục Trấn Phủ và Thừa Thiên. Cuối năm 1843, ông được triều đình tạm tha nhưng bị sung đi Đà Nẵng, chờ ngày đi “dương trình hiệu lực”.
– Sau đó, Cao Bá Quát được phục chức tại Bộ Lễ, song không bao lâu lại bị thải hồi về sống ở Thăng Long. Đến năm 1847, ông được triệu vào Huế làm việc tại Viện Hàn Lâm, phụ trách sưu tầm và chỉnh lý văn thơ. Năm 1850, ông làm Giáo thụ phủ Quốc Oai, nhưng cuối năm thì xin thôi chức để về chịu tang cha và chăm sóc mẹ già.
– Giữa năm 1854, trước cảnh nhân dân Sơn Tây chịu hạn hán, mất mùa và đói khổ, Cao Bá Quát đã cùng một số sĩ phu và thổ hào đứng lên khởi nghĩa ở Mỹ Lương. Mặc dù ban đầu giành được một số thắng lợi, nghĩa quân dần thất bại trước sự đàn áp của triều đình. Tháng Chạp năm Giáp Dần (1855), trong trận giao tranh ác liệt tại Yên Sơn, Cao Bá Quát hy sinh, khép lại cuộc đời bi tráng của một trí thức yêu nước.
– Sự nghiệp văn chương của Cao Bá Quát thể hiện rõ khí phách và tấm lòng với dân tộc qua nhiều bài thơ nổi tiếng như Tài mai, Quá Dục Thúy Sơn, Thanh Trì phiếm châu nam hạ… Để ghi nhớ và tôn vinh những đóng góp của ông, ngày 30/3/2011, Nhà tưởng niệm danh nhân Cao Bá Quát đã được khánh thành tại quê hương Phú Thị, trở thành biểu tượng của niềm tự hào và kính trọng đối với một nhân cách lớn của lịch sử và văn học Việt Nam.

Tác phẩm
Ngay sau khi cuộc nổi dậy ở Mỹ Lương (tỉnh Sơn Tây) bị thất bại (1855-1856), các tác phẩm của Cao Bá Quát đã bị triều đình nhà Nguyễn cho thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành, nên đã bị thất lạc không ít. Tuy vậy, trước 1984, nhóm biên soạn sách Thơ văn Cao Bá Quát, đã tìm đến kho sách cổ của Thư viện Khoa học kỹ thuật trung ương (Hà Nội), và sau khi loại trừ những bài chắc chắn không phải của ông, thì số tác phẩm còn sót lại cũng còn được trên ngàn bài được viết bằng thứ chữ Nôm và chữ Hán.
Cụ thể là hiện còn 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, gồm 11 bài viết theo thể ký hoặc luận văn và 10 truyện ngắn viết theo thể truyền kỳ. Trong số này về chữ Nôm, có một số bài hát nói, thơ Đường luật và bài phú Tài tử đa cùng (Bậc tài tử lắm cảnh khốn cùng). Về chữ Hán, khối lượng thơ nhiều hơn, được tập hợp trong các tập:
- Cao Bá Quát thi tập
- Cao Chu Thần di thảo
- Cao Chu Thần thi tập
- Mẫn Hiên thi tập
Đánh giá, nhận xét
– Theo như Từ điển văn học (bộ mới) có nhận xét:
Cao Bá Quát là một nhà thơ rất có bản lĩnh. Từ những tác phẩm đầu tiên đã thấy lòng tin của nhà thơ vào ý chí và tài năng của mình. Ông sống nghèo, nhưng khinh bỉ những kẻ khom lưng uốn gối để được giàu sang, và tin rằng mình có thể tự thay đổi đời mình.
Đến khi làm quan, muốn đem tài năng ra giúp đời, nhưng rồi Cao Bá Quát sớm nhận ra rằng vấn đề không hề đơn giản như ông tưởng.
Có những lúc ông cảm thấy bất lực trước những bất công trong xã hội, ông cũng muốn nhàn hưởng lạc thú như Nguyễn Công Trứ. Thế nhưng mỗi khi nghĩ đến những người cùng khổ bị áp bức, ông lại thấy cách đó là không thể, mà phải tìm một con đường khác. Cuối cùng, con đường mà ông chọn là đến với phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình.
Ngoài những chủ đề nêu trên, ông còn viết về vợ con, bè bạn, học trò và quê hương. Bài nào cũng thắm thiết, xúc động. Ông cũng có một số bài đề cao những anh hùng trong lịch sử, để qua đó thể hiện hoài bão của mình. Ông cũng có một số bài thơ viết về chuyện học, chuyện thi mà ông cho rằng chỉ là chuyện “nhai văn nhá chữ”. Trong dịp ông đi công cán ở vùng Hạ Châu, ông cũng có những bài thơ phản ảnh cảnh bất công giữa người da trắng với người da đen…
Về mặt nghệ thuật, Cao Bá Quát là một nhà thơ trữ tình với một bút pháp đặc sắc. Ông làm thơ nhanh, có lúc “ứng khẩu thành chương”, nhưng vẫn thể hiện được cảm xúc dồi dào và sâu lắng. Và mặc dù hình tượng trong thơ ông thường bay bổng, lãng mạn, nhưng trong những bài viết về quê hương thì ông lại sử dụng rất nhiều chi tiết hiện thực gợi cảm. Ngoài ra, đối với thiên nhiên, ông cũng hay nhân cách hóa, coi đó như những người bạn tri kỷ tri âm…
– GS. Dương Quảng Hàm: Cao Bá Quát là một văn hào có nhiều ý tứ mới lạ, lời lẽ cao kỳ.
– GS. Thanh Lãng: Tư tưởng độc lập của Cao Bá Quát khác cái chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ. Ông Trứ lập nghiệp là để giúp vua, để chu toàn nghĩa quân thần; còn ông Quát mang cả cái mộng thay đổi thời cuộc và chuyển vần số mệnh…Về mặt nghệ thuật, sở trường của ông là thể phú và thể ca trù. Hai thể này, với ông đã vươn tới một trình độ nghệ thuật tuyệt vời. Có điều ông hay lạm dụng chữ Nho và điển tích, vì vậy có thua kém Nguyễn Công Trứ về thể loại ca trù.
– Thi sĩ Xuân Diệu: Cao Bá Quát trước mắt chúng ta, tượng trưng cho tài thơ và tinh thần phản kháng. Còn triết lý của ông chính là bền bỉ phục vụ cho đời.
🧠 Phong Cách Sáng Tác Các Tác Giả Văn Học
⬇️ 100 Phong Cách Sáng Tác Nhà Văn
⬇️ 105 Phong Cách Sáng Tác Các Nhà Thơ
⬇️ 108 Phong Cách Sáng Tác CácNhà Viết Kịch
⬇️ 90 Phong Cách Sáng Tác Nhà Lý Luận Văn Học
⬇️ 110 Phong Cách Sáng Tác Nhà Phê Bình Văn Học
