Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn (Tiểu sử, sự nghiệp và phong cách sáng tác)

Bùi Hạnh Cẩn (1921 – 2020) là nhà báo, nhà văn, hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, đồng thời là một cây bút uyên thâm, nhiệt huyết với văn học và báo chí, được biết đến với sự cách tân trong sáng tác và lòng tận tụy với nghề. Bài viết dưới đây Khái quát về Tiểu sử, sự nghiệp và phong cách sáng tác của Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn

Tiểu sử

– Bùi Hạnh Cẩn (16/5/1921 – 4/2/2020) sinh tại thôn Vân Tập, xã Minh Tân, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, là anh họ của nhà thơ Nguyễn Bính.

– Ông xuất thân trong một gia đình Nho giáo, thân sinh là cụ Bùi Trình Khiêm, đại biểu Quốc hội khoá I của tỉnh Nam Định.

– Từ năm 1938–1939, ông lên Hà Nội tham gia Hội Truyền bá Quốc ngữ, cùng các đồng nghiệp như Nguyễn Hồng Nghi, Nguyễn Trinh Cơ dạy học, tổ chức diễn kịch để gây quỹ, tiếp cận các luồng tư tưởng tiến bộ, đồng thời viết bài cho nhiều báo lớn như Ngày nay, Tiểu thuyết thứ năm. Những trải nghiệm này hình thành nền tảng sáng tác và quan điểm văn học của ông.

Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn

Sự nghiệp

– Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Bùi Hạnh Cẩn trở về Nam Định, đảm nhận vai trò Kiểm soát viên tài liệu của Ty Bình dân học vụ, tham gia viết báo kháng chiến như Nam Định kháng chiến, Công dân.

– Sau năm 1954, ông lên Hà Nội công tác tại các tờ báo Thủ đô, Thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều vị trí từ phóng viên, biên tập viên đến quản lý.

– Ngoài ra, ông từng giữ các chức vụ quan trọng: Ủy viên thường trực, Chánh văn phòng Hội Nhà báo Việt Nam, Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội, Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội, và là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam. Trong mọi vai trò, ông luôn được đồng nghiệp đánh giá là chất phác, tận tụy và năng nổ.

Phong cách sáng tác

– Bùi Hạnh Cẩn là nhà báo và nhà văn luôn đề cao sự sáng tạo, cách tân trong nội dung và hình thức. Văn chương của ông chịu ảnh hưởng từ các bậc tiền bối như Phạm Duy Tốn, Dương Bá Trạc, Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học, kết hợp tinh thần mở đường cho trào lưu văn hóa – văn học mới. Các tác phẩm của ông vừa phản ánh hiện thực xã hội, vừa thể hiện tư duy sắc sảo, nhạy cảm, giàu trách nhiệm công dân và lòng trân trọng văn hóa dân tộc.

Tác phẩm tiêu biểu

Bùi Hạnh Cẩn có khoảng hơn 100 đầu sách (thơ, văn, dịch thuât) được lưu tại thư viện Quốc gia.

  • Hẹn
  • Hồ Xuân Hương, thơ chữ Hán, chữ Nôm & giai thoại (1999)
  • Ngõ ba nhà (tiểu thuyết, dịch)
  • Hai mươi nữ nhân Trung Quốc (2005)
  • Trí tuệ Kinh điển Trung Hoa (dịch, 2004)
  • Kẻ Dộc Đông Ngàn Hà Nội
  • Tự điển Kinh dịch phổ thông
  • Sử ký Tư Mã Thiên – Những điều chưa biết (dịch, 2007)
  • Từ vựng chữ số và số lượng (1994)
  • 192 Bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du (1994)
  • Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam (2004)
  • Tinh hoa văn hoá dưỡng sinh (1991)
  • Thăng Long Thi Văn tuyển (dịch, 2006)
  • Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương Cống Việt Nam (2002)
  • Năm đời Tổng Mỹ (truyện,1973)
  • Ký sự lên Kinh (sưu tầm, dịch thơ văn Hải Thượng Lãn Ông, 1973)
  • Lê Quý Đôn (truyện ký, 1984)
  • Bà Điểm họ Đoàn (nghiên cứu, 1987)
  • Chinh phu ngâm của Hông Liệt Bá (dịch)
  • Tục ngữ cách ngôn thế giới (1987)
  • Chợ Viềng Hội Phủ (sưu tầm khảo cứu, 1983)
  • Nguyễn Bính và tôi (hồi ký, 1994)
  • Tổng tập thơ chữ Hán Nguyễn Du (dịch, 1996)
  • Tổng tập thơ phú Nôm của Nguyễn huy Lượng (dịch, 1996)
  • Tranh chữ (2010)
Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *