Ấu Triệu (Lê Thị Đàn) là nữ liệt sĩ – nhà thơ kiên trung của phong trào Duy Tân, người để lại tấm gương bất khuất và những vần tuyệt mệnh thấm đẫm tinh thần yêu nước. Bài viết dưới đây Khái quát về Nhà thơ Ấu Triệu
Tiểu sử
– Ấu Triệu (? – 25/10/1910), tên thật là Lê Thị Đàn, quê ở xóm Chỉ, làng Thế Lại, Thừa Thiên – Huế, sinh ra trong một gia đình khá giả, giàu truyền thống yêu nước.
– Thuở nhỏ, bà nổi tiếng thông minh, ham học và có năng khiếu văn thơ. Tuy nhiên, gia cảnh sớm lâm vào biến cố: cha bị tù đày do liên quan phong trào Cần Vương, mẹ qua đời, khiến bà phải đảm đương nhiều nỗi lo toan. Bà trở thành vợ của một viên thông ngôn tòa Khâm sứ Trung Kỳ, nhưng khi chồng được điều vào Nam, bà nhất quyết ở lại Huế để phụng dưỡng cha và lo hương khói cho mẹ.

Sự nghiệp – Hoạt động cách mạng
– Năm 1903, qua sự tiến cử của Võ Bá Hạp, Lê Thị Đàn được Phan Bội Châu kết nạp vào Duy Tân hội, trở thành nữ đồng chí đầu tiên của tổ chức này. Chính cụ Phan cũng là người đặt cho bà bí danh “Ấu Triệu”. Suốt 7 năm hoạt động, bà đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng: làm liên lạc, vận chuyển tiền bạc, thư từ và tài liệu giữa các cơ sở bí mật từ Trung Kỳ đến Bắc Kỳ để đưa ra nước ngoài cho du học sinh Việt Nam tại Nhật. Có thời gian, bà cải trang thành ni cô để dễ bề hoạt động, nổi tiếng cương nghị, trung tín và ứng xử linh hoạt trước kẻ thù.
– Ngoài vai trò trong Duy Tân hội, bà còn tích cực tham gia các phong trào đấu tranh như kháng thuế năm 1908, vận động học sinh bỏ trường thi để phản đối chính quyền thực dân – phong kiến.
– Năm 1910, bà bị thực dân Pháp bắt giam, tra tấn tàn bạo nhưng kiên quyết không khai báo điều gì liên quan đến hội. Trong nhà lao, bà đã tự kết liễu đời mình bằng một dải lụa trắng, để lại một bài thơ tuyệt mệnh viết bằng máu, thể hiện tinh thần yêu nước kiên trung và bất khuất
I
Huyết khô lệ kiệt hận nan tiêu
Trường đoạn Hương giang nhật dạ trào
Ngô đảng tảo thanh cứu lỗ nhật
Phần tiền nhất chỉ vị nùng thiêu.
II
Trùng tuyền yểm lệ kiến Trưng Vương
Đề huyết thư quyên chỉ tự thương
Bằng tạ phật linh như tái thế
Nguyện thân thiên tý tý thiên sang.
III
Thê lương ngục thất mệnh chung thi
Hải khoát sa không khốc tự tri
Tử quốc đáo nùng thiên hữu phận
Thương tâm quan lũ kỷ nam nhi.
Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai dịch:
I
Huyết lệ dầu khan, giận chửa sờn
Chiều hôm tê tái nước sông Hương
Đảng ta khi quét xong quân giặc
Trước nấm mồ em đốt bó nhang.
II
Suối vàng gạt lệ gặp Bà Trưng
Máu thắm hồn quyên khóc thảm thương
Lạy Phật, thân này còn hoá kiếp
Tay xin nghìn cánh, cánh nghìn thương.
III
Lạnh lùng cảnh ngục lúc quyên sinh
Biển rộng đồng không mình biết mình
Chết với nước non em tốt số
Chạnh lòng tủi hổ lũ trâm anh.
Bài thơ chỉ có ba khổ, được viết bằng chữ Hán, mang đậm tình yêu non sông đất nước, là bài ca về tấm lòng của người phụ nữ đã biết hy sinh thân mình cho dân tộc. Chính vì lẽ đó mà cụ Phan Bội Châu đã đặt tên cho bà là Ấu Triệu ( Bà Triệu nhỏ) để tỏ lòng kính trọng một tấm gương nhi nữ kiên cường. Cụ Phan Bội Châu đã viết về Ấu Triệu:
“ Lọ là các cậu, lọ là ông
Ai bảo rằng thư, chẳng phải hùng
Miệng có chào lòng, quen sấm sét
Gan đành bỏ mạng, tiếc non sông
Dây lưng một giải bền hơn sắt
Nét máu ngàn thu đậm vơí hồng
Ai hỡi biết chăng thời chớ hỏi
Hỏi hòn đá nọ biết hay không”
– Am thờ bà Ấu Triệu Lê Thị Đàn được cụ Phan cho xây dựng nằm ở vị trí trang trọng trong khuôn viên của khu lưu niệm nhà thờ cụ Phan Bội Châu ở Huế.
🧠 Phong Cách Sáng Tác Các Tác Giả Văn Học
⬇️ 100 Phong Cách Sáng Tác Nhà Văn
⬇️ 105 Phong Cách Sáng Tác Các Nhà Thơ
⬇️ 108 Phong Cách Sáng Tác CácNhà Viết Kịch
⬇️ 90 Phong Cách Sáng Tác Nhà Lý Luận Văn Học
⬇️ 110 Phong Cách Sáng Tác Nhà Phê Bình Văn Học
