Nhà soạn kịch Đoàn Phú Tứ (Tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm tiêu biểu và phong cách sáng tác)

Đoàn Phú Tứ là một trong số ít người đi đầu (về sáng tác cũng như về trình diễn) trong lịch sử kịch nói Việt Nam thời non trẻ. Bài viết dưới đây khái quát về Tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm tiêu biểu và phong cách sáng tác của Nhà thơ/ Nhà soạn kịch Đoàn Phú Tứ

Tiểu sử

– Đoàn Phú Tứ (1910 – 1989) sinh ngày 10 tháng 9 năm 1910 tại Hà Nội, quê gốc ở Tử Nê, huyện Tiên Du (nay là Tiên Sơn), tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ ông theo học tại trường Bưởi (nay là THPT Chu Văn An, Hà Nội) và trường Albert Sarraut (nay là THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm). Năm 1932, ông đỗ Tú tài Triết học rồi vào học Đại học Luật nhưng bỏ dở để đi làm báo. Ông từng cộng tác với nhiều tờ báo lớn như Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội báo

– Ngay từ năm 1925, khi còn học, ông đã viết văn, đăng những bài từ khúc trên Đông Pháp thời báo. Khoảng năm 1935, ông chuyển hẳn sang viết kịch, đồng thời tổ chức ban kịch Tinh hoa, tham gia làm đạo diễn, diễn viên và chủ nhiệm tờ Tinh hoa (1937).

– Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Đoàn Phú Tứ hoạt động văn nghệ ở Thanh Hóa rồi Việt Bắc, tham gia tạp chí Văn nghệ, Đoàn Sân khấu Việt Nam và Hội Văn hóa Việt Nam. Ông từng là đại biểu Quốc hội khóa I (1946), sau đó xin từ nhiệm (1951). Trong thời gian làm đại biểu, ông đã gửi thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh tố cáo hành vi tham nhũng của Trần Dụ Châu – vụ án được xử nghiêm minh năm 1950.

– Từ năm 1951 đến 1954, ông giảng dạy tại Đại học Văn khoa và một số trường tư ở Hà Nội. Sau hòa bình (1954), trong khoảng 20 năm cuối đời, ông vẫn tiếp tục viết và dịch văn học dưới bút danh Tuấn Đô. Ông mất ngày 20 tháng 9 năm 1989 tại Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi. Năm 1984, ông được trao Giải thưởng văn học dịch của Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện nay, một số con đường tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng mang tên ông.

Nhà soạn kịch Đoàn Phú Tứ

Sự nghiệp và tác phẩm

Đoàn Phú Tứ là một trong những người đặt nền móng cho kịch nói Việt Nam thời kỳ đầu. Ông sáng tác nhiều vở kịch ngắn và dài, đồng thời giảng dạy, nghiên cứu về nghệ thuật kịch.

  • Kịch:

    • Những bức thư tình (1937), gồm 6 vở kịch ngắn.

    • Mơ hoa (1941), gồm 6 vở kịch ngắn.

    • Ghen (1937, in 1942, diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội năm 1947).

    • Ngã ba (1943).

    • Thằng cuội ngồi gốc cây đa (1944).

    • Trở về (1949).

    • Ngoài ra còn có Phương pháp viết kịch (1950), Đi tìm chủ từ trong vài đoạn văn “Đoạn trường tân thanh” (1949).

  • Thơ: Dù ít sáng tác nhưng ông nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với bài “Màu thời gian”, được tuyển vào Thi nhân Việt Nam (1942). Bài thơ đã tạo dấu ấn đậm nét trên thi đàn nhờ thi pháp tinh tế, tình cảm chân thành, kín đáo.

  • Dịch thuật (bút danh Tuấn Đô): Ông dịch nhiều tác phẩm lớn của văn học phương Tây, trong đó có Lão hà tiện, Trưởng giả học làm sang (Molière), Đỏ và đen (Stendhal), Tuyển tập kịch Musset, Hài kịch Shakespeare, Pantagruel (Rabelais), Tuyển tập kịch Henrik Ibsen

Phong cách sáng tác

Đoàn Phú Tứ là nghệ sĩ đa tài: nhà thơ, nhà viết kịch, đạo diễn, diễn viên và dịch giả.

  • Kịch của ông vừa mang tính triết lý sâu sắc, vừa khai thác đề tài tình yêu, thể hiện rõ khát vọng nhân sinh. Kịch bản giàu kịch tính, nhân vật có bản sắc, cấu trúc chặt chẽ, góp phần làm phong phú sân khấu Việt Nam buổi đầu.

  • Thơ của ông, dù ít, nhưng giàu chất lãng mạn, thấm đẫm màu sắc tượng trưng và triết lý về thời gian, tình yêu, thân phận con người. “Màu thời gian” trở thành một thi phẩm kinh điển của Thơ mới.

  • Dịch thuật của ông đã góp phần đưa nhiều tác phẩm văn học kinh điển phương Tây đến với độc giả Việt Nam, tạo cầu nối văn hóa Đông – Tây.

Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *