Vũ Ngọc Phan là nhà phê bình xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Các tác phẩm của ông thực sự có ý nghĩa và ảnh hưởng lớn đối với văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX cho đến nay. Bài viết dưới đây Khái quát về tiểu sử, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật, các tác phẩm chính của Nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan.
Tiểu sử
– Vũ Ngọc Phan (1902–1987) là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học hiện đại và văn học dân gian có nhiều đóng góp to lớn cho nền văn hóa Việt Nam thế kỷ XX.
– Ông sinh ngày 8 tháng 9 năm 1902 tại Hà Nội; nguyên quán tại làng Đông Lão, xã Đông Cửu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình nhà Nho nghèo.
– Thuở nhỏ, ông theo cha đến Hưng Yên và học chữ Hán. Từ năm 1920 đến 1929, ông chuyển sang học tiếng Pháp tại Hà Nội và đỗ tú tài Pháp khi 27 tuổi. Vũ Ngọc Phan có năng khiếu văn chương từ sớm, tư tưởng tự do, sớm chọn con đường dạy học tư, viết báo, viết văn và dịch thuật để sinh sống và cống hiến cho đời sống tinh thần dân tộc. Trong những năm đầu sáng tác, ông từng sử dụng bút danh Chỉ Qua Thị.

Sự nghiệp
– Từ cuối thập niên 1920 đến giữa thập niên 1940, Vũ Ngọc Phan cộng tác với nhiều tờ báo và tạp chí nổi tiếng như Pháp – Việt, Văn học, Nhật tân, Phổ thông bán nguyệt san, Trung Bắc tân văn… Ông từng giữ vai trò Chủ bút tờ Hà Nội tân văn, đồng thời chủ trương thành lập Nhà xuất bản Hà Nội.
– Ông tích cực tham gia phong trào Cách mạng từ Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, là thành viên Hội Văn hóa Cứu quốc và cộng tác với tạp chí Tiên phong. Sau đó, ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng: Phó Chủ tịch Đoàn Văn nghệ Bắc Bộ (1945), Tổng Thư ký Ủy ban vận động Hội nghị Văn hóa toàn quốc (1946), Ủy viên Thường trực Đoàn Văn hóa kháng chiến Liên khu IV (1947–1951), Ủy viên Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa (1951–1953).
– Từ năm 1959, ông công tác tại Viện Văn học, phụ trách Tổ văn học dân gian và sau đó giữ vai trò Thư ký Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam từ Đại hội lần thứ nhất (1966). Ông trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957 và gắn bó với công việc nghiên cứu, sưu tầm, phê bình văn học cho đến cuối đời.
Phong cách sáng tác và nghiên cứu
– Vũ Ngọc Phan là một học giả tận tụy, có tư duy khoa học, sâu sắc và tinh tế trong đánh giá văn học. Ông kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc nghệ thuật và phương pháp phân tích lý tính, tạo nên phong cách nghiên cứu nghiêm túc, giàu tính học thuật nhưng không thiếu chất nhân văn.
– Là người say mê khám phá giá trị dân tộc qua kho tàng văn hóa truyền thống, ông đặc biệt gắn bó với lĩnh vực văn học dân gian, dành nhiều tâm huyết để sưu tầm, biên soạn và lý giải các hiện tượng văn học truyền miệng. Đồng thời, ông cũng là một trong những nhà phê bình văn học hiện đại sớm nhất của Việt Nam, có ảnh hưởng sâu rộng tới các thế hệ sau.
Tác phẩm tiêu biểu
– Suốt gần 60 năm hoạt động văn chương, Vũ Ngọc Phan đã để lại một di sản đồ sộ gồm các công trình nghiên cứu, dịch thuật, sáng tác và sưu tầm, trong đó nhiều tác phẩm có giá trị lâu dài:
-
Phê bình – nghiên cứu văn học hiện đại:
-
Trên đường nghệ thuật (1940)
-
Nhìn sang láng giềng (1941)
-
Thi sĩ Trung Nam (1942)
-
Nhà văn hiện đại (4 tập, 1942–1945) – công trình phê bình văn học có giá trị hàng đầu, tổng kết diện mạo văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.
-
Con đường mới của thanh niên (1944)
-
Chuyện Hà Nội (1944)
-
Những năm tháng ấy (1987, hồi ký)
-
-
Sưu tầm – biên soạn văn học dân gian:
-
Những trận đánh Pháp (2 tập, 1946)
-
Sống ở muôn loài (1946)
-
Truyện cổ Việt Nam (1955, tái bản nhiều lần, từ lần in thứ ba năm 1957 đổi tên thành Truyện cổ tích Việt Nam)
-
Tục ngữ – Ca dao – Dân ca Việt Nam (2 tập, 1956) – một công trình có giá trị nghiên cứu và phổ cập sâu rộng, được tái bản nhiều lần.
-
Vinh danh
– Ghi nhận những đóng góp to lớn của ông cho sự nghiệp văn hóa dân tộc, năm 1996, Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học – nghệ thuật cho hai công trình tiêu biểu: Truyện cổ Việt Nam và Tục ngữ – Ca dao – Dân ca Việt Nam.
– Các tác phẩm, bản thảo, tư liệu cá nhân của Vũ Ngọc Phan hiện được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, là nguồn tư liệu quý giá về văn học – văn hóa Việt Nam hiện đại. Di sản ông để lại không chỉ có ý nghĩa về mặt học thuật mà còn là tấm gương mẫu mực về sự tận tụy với văn hóa dân tộc, về tinh thần lao động không mệt mỏi của một trí thức yêu nước.
🧠 Phong Cách Sáng Tác Các Tác Giả Văn Học
⬇️ 100 Phong Cách Sáng Tác Nhà Văn
⬇️ 105 Phong Cách Sáng Tác Các Nhà Thơ
⬇️ 108 Phong Cách Sáng Tác CácNhà Viết Kịch
⬇️ 90 Phong Cách Sáng Tác Nhà Lý Luận Văn Học
⬇️ 110 Phong Cách Sáng Tác Nhà Phê Bình Văn Học
