Nhà phê bình Đỗ Đức Hiểu (Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, nhận định)

Nhà phê bình Đỗ Đức Hiểu đã tạo ra một xu hướng phê bình mới, khác hẳn với lối phê bình cũ, góp phần làm phong phú thêm bức tranh nghiên cứu văn học Việt Nam. Bài viết dưới đây Khái quát về Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, nhận định về Nhà phê bình Đỗ Đức Hiểu

Tiểu sử

  • Giáo sư, Nhà giáo ưu tú Đỗ Đức Hiểu, sinh ngày 16 tháng 9 năm 1924 tại Xã Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội, mất ngày 27 tháng 3 năm 2003.

  • Trước Cách mạng tháng Tám, ông đã đỗ tú tài và đang theo học năm thứ hai Trường Đại học Luật Hà Nội.

  • Trong đội ngũ những người thầy đầu tiên có công xây dựng ngành Ngữ Văn, tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (từng có thời kì được gọi là Văn Khoa – Tổng hợp), GS Đỗ Đức Hiểu thuộc thế hệ thứ hai, sau các học giả hàng đầu của ngành Ngữ văn, gồm Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Cao Xuân Huy, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Xuân Nhị…

Nhà phê bình Đỗ Đức Hiểu

Sự nghiệp

  • Bước ngoặt đầu tiên trong cuộc đời đến khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Bỏ giảng đường Luật, ông lên Việt Bắc tham gia kháng chiến và chuyển sang nghề dạy văn, từng công tác ở các trường trung học nổi tiếng như Hùng Vương (Phú Thọ), Lương Ngọc Quyến (Thái Nguyên).

  • Sau năm 1954, khi mới ngoài 30 tuổi, ông tham gia Ban Tu thư – Bộ Giáo dục, biên soạn các tuyển văn lớp 5,6,7 và trở thành thành viên nhóm nghiên cứu Lê Quý Đôn, cùng các nhà giáo Lê Thước, Hoàng Ngọc Phách, Huỳnh Lý… Tuy nhiên sau sự kiện Nhân văn – Giai phẩm, nhóm nghiên cứu này tan rã.

  • Ông sau đó chuyển sang giảng dạy Văn học phương Tây tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chủ biên nhiều giáo trình và từ điển văn học quan trọng. Giai đoạn thập niên 1960 – 1970, ông giới thiệu vào Việt Nam các tác giả như Shakespeare, Rabelais, các tác phẩm Công xã Paris, Barbusse…

  • Từ cuối những năm 1970, Đỗ Đức Hiểu bắt đầu chuyển hướng sang phê bình văn học Việt Nam, khẳng định khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa với công trình “Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa” (1978) – một lựa chọn khá “lạ” so với chuyên môn văn học phương Tây của ông, nhưng cho thấy sự nhạy bén trước thời cuộc.

  • Bước ngoặt thứ hai trong sự nghiệp: thời kỳ Đổi mới, ông trở lại với nguồn vốn tri thức phương Tây hiện đại của mình (phân tâm học, ký hiệu học, thi pháp học…) để trở thành một gương mặt tiên phong trong đổi mới phê bình văn học Việt Nam theo hướng thi pháp học hiện đại, với các công trình như:

    • Đổi mới phê bình văn học (1994)

    • Đổi mới đọc và bình văn (1999)

    • Thi pháp hiện đại (2000)

  • Văn phê bình của Đỗ Đức Hiểu sau năm 1980 trở nên say đắm, hào sảng, tài hoa, tập trung vào bình giá lại các tác giả cổ điển như Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương… và cả những cây bút đương đại như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Minh Châu.

Tác phẩm tiêu biểu

Chưa kể tác phẩm dịch mà ông tham gia trong Nhóm Lê Quý Đôn, các công trình nghiên cứu, biên soạn ông cho xuất bản bao quát trên ba khu vực:

1. Nghiên cứu văn học phương Tây và văn học Pháp, gồm:

–  Lịch sử văn học phương Tây (chủ biên, 2 tập, 1963)

– Văn học công xã Pa ri (1978)

–  Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa (1978)

– Lịch sử văn học Pháp (đồng chủ biên với Lê Hồng Sâm, 5 tập, 1990-1992)

2. Nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam, soạn Tự điển văn học, gồm:

          – Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (viết chung trong nhóm Lê Quý Đôn)

           –  Từ điển văn học (chủ biên, 2 tập, 1983-1984)

           –   Điển tích văn học (viết chung với Mai Thục, 2000)

3. Phê bình, tiểu luận về văn học Việt Nam hiện đại, gồm:

          – Đổi mới phê bình văn học (1994)

          – Đổi mới đọc và bình văn (1999)

          – Thi pháp hiện đại (2000)

          – Thi pháp hiện đại – Một số vấn đề lý luận và ứng dụng. NXB Giáo Dục, 2012.

Phong cách phê bình

–  Với ông, ông tôn trọng người đọc khi mang đến cho họ những tri thức, kiến giải à laportée de tous (trong tầm tay của tất cả mọi người). Với ông, tất cả những gì khi được viết ra trên trang giấy, đều phải rõ ràng, minh mạch, dễ hiểu.

– Đỗ Đức Hiểu từng tâm niệm thành thực “bản chất của con người là sáng tạo”  Tính sáng tạo cũng chính là một trong những đặc điểm trong những công trình nghiên cứu của Đỗ Đức Hiểu. Đối với thế giới văn chương, sáng tạo là không ngừng nghỉ, nhà văn là một chủ thể sáng tạo ra thế giới tinh thần của các hình tượng nhân vật trong tác phẩm, còn nhà nghiên cứu và phê bình chính là người bạn đồng hành, đồng sáng tạo, phát hiện những giá trị mà nhà văn chưa truyền tải tới được với người đọc.

– Ông luôn cho rằng: “Nhà phê bình phải là một cá tính sáng tạo, một nghệ sĩ, và văn bản phê bình phải
là văn bản mang đậm dấu ấn cá tính sáng tạo, tồn tại song song với sáng tác của nhà thơ, nhà tiểu thuyết”. Người đọc luôn hấp dẫn bởi những trang viết vừa tư duy vừa chứa đựng trong đó sự bùng nổ, say mê.

Nhận định, đánh giá

Nhà nghiên cứu Phan Quý Bích đánh giá cao việc vận dụng thi pháp hiện đại của Đỗ Đức Hiểu: “Ông là một trong những người đầu tiên ở ta tìm hiểu thi pháp và ứng dụng nó trong phê bình, nghiên cứu. Và thi pháp đã thực sự nở hoa trong nhiều trang viết của ông.” 

– Trong cuốn Các tác giả văn chương Việt Nam của nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Thường đã nhận định một cách khá khách quan và về vai trò của Đỗ Đức Hiểu đối với nghiên cứu và phê bình văn học:  “Đỗ Đức Hiểu, là
một trong những người đi tiên phong trong việc đề xuất cần đổi mới về cách đọc và cách phê bình văn học lâu nay của chúng ta” 

Nhà nghiên cứu Đặng Thị Hảo trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới) đã chỉ ra sự thay đổi trong tư duy tiếp nhận của Đỗ Đức Hiểu sau Đổi mới:  “Về nghiên cứu văn học, Đỗ Đứu Hiểu là một trong số ít người ngay từ đầu những
năm 80, sau chuyến đi nghiên cứu ở Pháp, tham gia hội thảo quốc tế về Xtăngđan, đã dứt khoát từ bỏ lối nghiên cứu xã hội học dung tục, tự phủ định cái cũ của bản thân, nhanh chóng tiếp cận trào lưu nghiên cứu phê bình mới
cuả phương Tây với chủ trương tiếp cận văn chương từ góc độ thi pháp”

–  Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong bài viết Thi pháp hiện đại trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam thế kỉ 20- Qua góc nhìn của một người nghiên cứu, tác giả bài viết đã đánh giá Đỗ Đức Hiểu là một trong những người đã vận dụng thi pháp học một cách tinh tế trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam: “Đỗ Đức Hiểu đi vào phê bình mới khá muộn màng (…) Thành công của Đỗ Đức Hiểu có thể do ông có trực cảm nhạy bén về ngôn ngữ hơn là vận dụng lí thuyết, bởi lí thuyết của ông vừa thiếu hệ thống, vừa sơ lược (…) Ông đã có một số phát hiện khá lí thú về nghệ thuật ngôn từ trong sáng tác Vũ Trọng Phụng, Hồ Xuân Hương”.

Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *